Quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải và trách nhiệm của Cảnh sát biển Việt Nam

01/12/2025 02:54:00 PM

(Canhsatbien.vn) - 

Là quốc gia sở hữu hơn 1 triệu km² diện tích mặt biển, vấn đề bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán trên các vùng biển có ý nghĩa quyết định trực tiếp đến an ninh - quốc phòng và kinh tế - xã hội của Việt Nam. Trong bối cảnh hoạt động hàng hải ở Biển Đông ngày càng sôi động, bài toán cân bằng giữa thực thi pháp luật trên biển và tạo thuận lợi cho các hoạt động hàng hải ngày càng cấp thiết. Trước thực tiễn đó, Luật Biển Việt Nam năm 2012 đã nội luật hóa đầy đủ quyền đi qua không gây hại (innocent passage) trong Công ước của Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982). Theo đó, quyền này cho phép tàu thuyền nước ngoài đi qua lãnh hải với điều kiện không gây phương hại đến hòa bình, quốc phòng, an ninh và trật tự của quốc gia ven biển.

Quyền đi qua không gây hại là một trong những nguyên tắc cốt lõi của pháp luật quốc tế về biển, được hình thành và phát triển nhằm mục tiêu dung hòa giữa lợi ích chủ quyền của quốc gia ven biển với nhu cầu tự do hàng hải, thương mại của các quốc gia khác. Nguyên tắc này không chỉ bảo đảm tính liên tục của giao thông hàng hải mà còn đặt ra những giới hạn pháp lý rõ ràng nhằm bảo vệ an ninh, trật tự và tài nguyên của quốc gia có vùng lãnh hải.

Theo Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982), quyền đi qua không gây hại được định nghĩa và luận giải một cách chi tiết. Điều 18 của Công ước quy định tính chất của việc “đi qua” là phải “liên tục và nhanh chóng”, trừ những trường hợp đặc biệt phát sinh từ sự cố hàng hải, bất khả kháng hoặc nhằm mục đích cứu giúp người, tàu thuyền đang gặp nạn. Bản chất “không gây hại” của việc đi qua được làm rõ tại Điều 19, trong đó nhấn mạnh rằng hành vi này không được “làm phương hại đến hòa bình, trật tự hay an ninh của quốc gia ven biển”. UNCLOS 1982 đã liệt kê một danh sách các hành vi bị coi là gây hại, từ các hoạt động quân sự, thu thập thông tin tình báo đến các hành vi gây ô nhiễm môi trường, đánh bắt hải sản trái phép. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để quốc gia ven biển thực thi quyền tài phán của mình, ngăn chặn các hành vi lạm dụng quyền đi qua không gây hại trong vùng lãnh hải.

Kế thừa và phát triển từ UNCLOS 1982, Luật Biển Việt Nam năm 2012 đã nội luật hóa một cách đầy đủ và có hệ thống các quy định về quyền đi qua không gây hại, tạo nên một hành lang pháp lý vững chắc, thống nhất với luật pháp quốc tế. Sự tương đồng này được thể hiện rõ ràng qua các quy định tại Điều 23 (Khoản 1 và 2), xác định các mục đích và tính chất của việc đi qua lãnh hải Việt Nam hoàn toàn phù hợp với các điều khoản tương ứng của UNCLOS 1982.

Tại Khoản 3, Điều 23, bằng việc liệt kê chi tiết 13 hành vi bị coi là làm phương hại đến hòa bình, quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn của Việt Nam, Luật Biển Việt Nam năm 2012 không chỉ tuân thủ UNCLOS 1982 mà còn tạo cơ sở pháp lý quan trọng để các lực lượng thực thi pháp luật trên biển bảo đảm nghiêm ngặt việc các tổ chức, cá nhân chấp hành các quy định của pháp luật khi hoạt động trong lãnh hải Việt Nam. Danh sách này bao gồm: (1) Đe dọa hoặc sử dụng vũ lực chống lại độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam; (2) Đe dọa hoặc sử dụng vũ lực chống lại độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia khác; thực hiện các hành vi trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế được quy định trong Hiến chương Liên hợp quốc; (3) Luyện tập hay diễn tập với bất kỳ kiểu, loại vũ khí nào, dưới bất kỳ hình thức nào; (4) Thu thập thông tin gây thiệt hại cho quốc phòng, an ninh của Việt Nam; (5) Tuyên truyền nhằm gây hại đến quốc phòng, an ninh của Việt Nam; (6) Phóng đi, tiếp nhận hay xếp phương tiện bay lên tàu thuyền; (7) Phóng đi, tiếp nhận hay xếp phương tiện quân sự lên tàu thuyền; (8) Bốc, dỡ hàng hóa, tiền bạc hay đưa người lên xuống tàu thuyền trái với quy định của pháp luật Việt Nam về hải quan, thuế, y tế hoặc xuất nhập cảnh; (9) Cố ý gây ô nhiễm nghiêm trọng môi trường biển; (10) Đánh bắt hải sản trái phép; (11) Nghiên cứu, điều tra, thăm dò trái phép; (12) Làm ảnh hưởng đến hoạt động của hệ thống thông tin liên lạc hoặc của thiết bị hay công trình khác của Việt Nam; (13) Tiến hành hoạt động khác không trực tiếp liên quan đến việc đi qua.

Quyền đi qua không gây hại là một nguyên tắc có tính hai mặt. Một mặt, tôn trọng quyền tự do hàng hải của cộng đồng quốc tế; mặt khác, đòi hỏi sự tuân thủ nghiêm ngặt của tàu thuyền để bảo vệ chủ quyền và an ninh của quốc gia ven biển. Chính vì vậy, việc Luật Biển Việt Nam năm 2012 liệt kê chi tiết 13 hành vi bị coi là “gây phương hại” tại Khoản 3, Điều 23 không chỉ là sự cụ thể hóa UNCLOS 1982 mà còn là cơ sở pháp lý quan trọng, hỗ trợ các lực lượng thực thi pháp luật trên biển trong việc phát hiện và xử lý hiệu quả các hành vi vi phạm của tàu thuyền nước ngoài trong vùng lãnh hải của Việt Nam.

Các hành vi lợi dụng quyền đi qua không gây hại để đe dọa an ninh - quốc phòng là những biểu hiện trực tiếp nhất của sự xâm phạm chủ quyền quốc gia. Việc Luật Biển Việt Nam quy định cụ thể các hành vi như “đe dọa hoặc sử dụng vũ lực”, “luyện tập hay diễn tập với bất kỳ kiểu, loại vũ khí nào”, “phóng đi, tiếp nhận hay xếp phương tiện quân sự lên tàu thuyền”, “thu thập thông tin gây thiệt hại cho quốc phòng, an ninh” hay “tuyên truyền nhằm gây hại” (điểm a, c, d, đ, g) cho thấy sự chủ động của Việt Nam trong việc phòng ngừa và ứng phó với các mối đe dọa từ bên ngoài.

Ngoài liệt kê các hành vi lợi dụng quyền đi qua không gây hại để đe dọa đến quốc phòng - an ninh, Luật Biển Việt Nam năm 2012 còn thể hiện tính toàn diện khi đề cập các hành vi “bốc, dỡ hàng hóa, tiền bạc hay đưa người lên xuống tàu thuyền trái với quy định của pháp luật Việt Nam” (điểm h) là những căn cứ pháp lý quan trọng để kiểm soát, ngăn chặn các hoạt động buôn lậu, buôn người hoặc nhập cư bất hợp pháp trên biển. Việc nghiêm cấm các hành vi “cố ý gây ô nhiễm nghiêm trọng môi trường biển”, “đánh bắt hải sản trái phép” hay “nghiên cứu, điều tra, thăm dò trái phép” (điểm i, k, l) trong lãnh hải cho thấy tầm nhìn chiến lược của Việt Nam trong việc bảo vệ bền vững nguồn tài nguyên và môi trường biển; ngăn chặn những hành vi trực tiếp gây thiệt hại đối với tài sản quốc gia, sinh kế của người dân và gây suy thoái hệ sinh thái biển. Điều này vừa khẳng định chủ quyền của Việt Nam không chỉ bao gồm an ninh - quốc phòng mà còn cả quyền tài phán dân sự trên vùng lãnh hải; vừa thể hiện sự tuân thủ luật pháp quốc tế và trách nhiệm của Việt Nam đối với các nguồn lợi tự nhiên của biển.

Là lực lượng vũ trang chuyên trách của Nhà nước, nòng cốt trong thực thi pháp luật trên biển, Cảnh sát biển Việt Nam có vị trí, vai trò quan trọng trong bảo vệ an ninh, trật tự, an toàn trên các vùng biển. Với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được quy định rõ trong Luật Cảnh sát biển Việt Nam năm 2018, đây là lực lượng trực tiếp thực hiện nhiệm vụ tuần tra, kiểm tra, kiểm soát, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, bao gồm cả những hành vi gây hại trong lãnh hải được Luật Biển năm 2012 liệt kê tại Khoản 3, Điều 23. Điều này khẳng định rằng, đối với quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải Việt Nam, Cảnh sát biển Việt Nam không chỉ là lực lượng giám sát mà còn trực tiếp đảm bảo các hoạt động hàng hải đều phải tuân thủ nghiêm ngặt pháp luật Việt Nam và các thỏa thuận quốc tế mà Việt Nam là quốc gia thành viên.

Với chức năng bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trong vùng biển Việt Nam, Lực lượng Cảnh sát biển hiện nay được trang bị hệ thống tàu thuyền, phương tiện hiện đại, giúp kịp thời phát hiện các hoạt động bất thường, nghi vấn như thu thập thông tin tình báo, tuyên truyền nhằm phá hoại an ninh, quốc phòng hay phóng, tiếp nhận phương tiện bay quân sự,... Từ đó, có khả năng giám sát chặt chẽ mọi hoạt động của tàu thuyền nước ngoài trong lãnh hải; nghiên cứu, phân tích, đưa ra những cảnh báo và tiến hành tham mưu, triển khai các biện pháp ngăn chặn, xử lý kịp thời và hiệu quả.

Bên cạnh đó, Điều 9, Luật Cảnh sát biển Việt Nam năm 2018 quy định 10 nhóm quyền hạn của Lực lượng này. Theo đó, khi phát hiện các hành vi vi phạm của tàu thuyền nước ngoài trong lãnh hải Việt Nam hoặc cố ý thực hiện các hành vi gây hại về trật tự an toàn và kinh tế như buôn lậu, đánh bắt hải sản trái phép, gây ô nhiễm môi trường,... Cảnh sát biển Việt Nam có quyền dừng tàu, khám xét, bắt giữ và xử phạt hành chính tùy theo mức độ hậu quả và hành vi vi phạm. Trong trường hợp có dấu hiệu tội phạm, Cảnh sát biển Việt Nam có thể tiến hành các biện pháp công tác nghiệp vụ quy định tại Điều 12 của Luật này để bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn trên biển theo quy định của pháp luật.

Thông qua phân tích cơ sở pháp lý và ý nghĩa thực tiễn, có thể khẳng định rằng quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải là một nguyên tắc cơ bản của luật biển quốc tế, vừa bảo đảm quyền tự do hàng hải, vừa tôn trọng chủ quyền quốc gia ven biển. Luật Biển Việt Nam năm 2012 đã nội luật hóa nguyên tắc này theo hướng tuân thủ UNCLOS 1982, đồng thời liệt kê và cụ thể hóa các hành vi gây hại một cách chi tiết, tạo hành lang pháp lý quan trọng để triển khai các biện pháp bảo vệ an ninh, quốc phòng và lợi ích quốc gia trên biển. Trong đó, Cảnh sát biển Việt Nam với chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn được giao là lực lượng trực tiếp tuần tra, kiểm tra, kiểm soát và chủ động phân tích, dự báo, tham mưu, đấu tranh, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm trong lãnh hải nói riêng và các vùng biển Việt Nam nói chung. Sự hiện diện của Cảnh sát biển Việt Nam trên thực địa không chỉ góp phần duy trì an ninh, trật tự, an toàn trên biển mà còn khẳng định năng lực và ý chí của Việt Nam trong bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên các vùng biển theo quy định của pháp luật Việt Nam và các thỏa thuận quốc tế mà Việt Nam là quốc gia thành viên./.

MINH ĐĂNG

Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục gửi về banbientapcsb@gmail.com

Các tin liên quan