25/11/2025 08:31:00 AM
(Canhsatbien.vn) -
Thời gian qua, trước tình trạng khai thác thủy sản bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định (IUU) đã và đang diễn biến phức tạp, đặc biệt là tình hình tàu cá Việt Nam vi phạm vùng biển nước ngoài khai thác hải sản bất hợp pháp, bị lực lượng chức năng nước ngoài bắt giữ tuy giảm, nhưng chưa chấm dứt, gây khó khăn cho công tác quản lý, xử lý của các lực lượng chức năng, trong đó có Cảnh sát biển Việt Nam.
Lực lượng Cảnh sát biển tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho các chủ phương tiện, thuyền trưởng tại cảng cá Tắc Cậu, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.
Trước tình hình trên, Đảng và Chính phủ hết sức quan tâm công tác lãnh đạo, chỉ đạo đối với nhiệm vụ chống IUU. Ngày 10/4/2024, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số 32-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác chống khai thác thủy sản bất hợp pháp, không khai báo, không theo quy định và phát triển bền vững của ngành thủy sản. Để đẩy mạnh công tác chống khai thác IUU, bảo đảm phát triển bền vững ngành thủy sản, Ban Bí thư yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách. Ngày 22/4/2024, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 52/NQ-CP về chương trình hành động và kế hoạch của Chính phủ triển khai thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng, trong đó có nhiệm vụ, giải pháp về hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến chống IUU.
Một trong những công cụ hữu hiệu để ngăn chặn, xử lý các vi phạm trong lĩnh vực thủy sản đó là các chế tài xử lý vi phạm hành chính và xử lý hình sự. Ngày 5/4/2024, Chính phủ ban hành Nghị định số 38/2024/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thủy sản thay thế Nghị định số 42/2019/NĐ-CP (sau đây viết tắt là Nghị định số 38/2024/NĐ-CP). Nghị định này quy định về hành vi vi phạm hành chính, hình thức, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền lập biên bản và thẩm quyền xử phạt đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực thủy sản. Tại Nghị định này, Tư lệnh Cảnh sát biển Việt Nam đã được bổ sung thẩm quyền xử phạt đối với hành vi vi phạm nghiêm trọng trong khai thác thủy sản, tạo điều kiện thuận lợi để Cảnh sát biển thực hiện chức năng, nhiệm vụ thực thi pháp luật về thủy sản. Đây cũng là một trong những điểm mới của Nghị định số 38/2024/NĐ-CP so với Nghị định số 42/2019/NĐ-CP.
Mặt khác, để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc về việc truy cứu trách nhiệm hình sự các đối tượng môi giới đưa tàu cá, ngư dân đi khai thác trái phép ở vùng biển nước ngoài, bảo đảm chế tài hình sự đủ sức răn đe, nghiêm khắc, ngày 12/6/2024, Hội đồng thẩm phán Tòa án Nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 04/2024/NQ-HĐTP, hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự về truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi liên quan đến khai thác, mua bán, vận chuyển trái phép thủy sản (sau đây viết tắt là Nghị quyết số 04/2024/NQ-HĐTP). Theo đó, có 8 hành vi liên quan đến khai thác, mua bán, vận chuyển trái phép thủy sản sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Cụ thể: i) Truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi xuất cảnh đi khai thác thủy sản trái phép ở ngoài vùng biển Việt Nam; ii) Tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh để đưa tàu cá, ngư dân khai thác thủy sản trái phép ở ngoài vùng biển Việt Nam; iii) Khai thác thủy sản vi phạm quy định về bảo vệ nguồn lợi thủy sản; iv) Khai thác, mua bán, vận chuyển thủy sản nguy cấp, quý hiếm; v) Người nước ngoài đưa tàu cá khai thác thủy sản trái phép tại vùng biển Việt Nam; vi) Các hành vi vi phạm quy định về quản lý, sử dụng thiết bị giám sát hành trình tàu cá, cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông để khai thác thủy sản trái phép; vii) Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức, sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức để khai thác, mua bán, vận chuyển trái phép thủy sản; viii) Buôn lậu, vận chuyển trái phép thủy sản.
Ngay sau khi Chính phủ ban hành Nghị định số 38/2024/NĐ-CP và Hội đồng thẩm phán Tòa án Nhân dân tối cao ban hành Nghị quyết số 04/2024/NQ-HĐTP, Cục Nghiệp vụ và Pháp luật đã chủ động tham mưu, đề xuất với Thủ trưởng Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển ban hành các văn bản chỉ đạo các cơ quan, đơn vị quán triệt, tổ chức triển khai, nghiên cứu sâu, kỹ các văn bản trên để áp dụng vào thực tiễn thực hiện nhiệm vụ chống IUU của Cảnh sát biển, cụ thể: Công văn số 3523/BTL-NV ngày 21/4/2024 của Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển về việc triển khai thực hiện Nghị định số 38/2024/NĐ-CP của Chính phủ; Công văn số 6549/BTL-NV ngày 01/7/2024 của Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển về việc triển khai thi hành Nghị quyết số 04/2024/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và hướng dẫn giải quyết một số khó khăn trong tổ chức thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thủy sản và Hướng dẫn số 5423/HD-NV ngày 06/6/2024 của Cục Nghiệp vụ và Pháp luật hướng dẫn thực hiện công tác kiểm tra, xử lý đối với tàu cá vi phạm trong lĩnh vực thủy sản.
Thời gian qua, các cơ quan, đơn vị của Cảnh sát biển Việt Nam đã triển khai có hiệu quả các quy định của pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh thủy sản nói chung và xử lý vi phạm về IUU nói riêng. Kết quả: Cảnh sát biển đã bắt giữ, xử lý 530 vụ việc/633 tàu cá vi phạm trong lĩnh vực thủy sản. Trong đó: khởi tố 2 vụ/2 tàu cá (tàu ST-92556-TS, CM-92365-TS) về tội “Tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh để đưa tàu cá, ngư dân khai thác thủy sản trái phép ở ngoài vùng biển Việt Nam” theo quy định tại Điều 348 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt vi phạm hành chính 506 vụ/599 tàu/631 đối tượng với tổng số tiền gần 12 tỷ đồng; Chuyển hồ sơ vụ việc đề nghị Chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang ra quyết định xử phạt đối với 13 vụ/16 tàu với tổng số tiền trên 11 tỷ đồng; Bàn giao cho cơ quan chức năng địa phương xử lý theo thẩm quyền 9 vụ/16 tàu cá/142 đối tượng có dấu hiệu tội phạm về “Tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử” theo quy định tại Điều 278 của Bộ luật Hình sự.
Bên cạnh những thuận lợi và kết quả đã đạt được thì việc triển khai, áp dụng Nghị định số 38/2024/NĐ-CP, Nghị quyết số 04/2024/NQHĐTP đối với các cơ quan, đơn vị Cảnh sát biển đã phát sinh những khó khăn, vướng mắc:
Thứ nhất, việc triển khai thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính thuộc thẩm quyền của Cảnh sát biển Việt Nam trong thu tiền xử phạt, nhất là các hành vi vi phạm nghiêm trọng trong chống khai thác IUU được quy định tại Điều 20 của Nghị định số 38/2024/NĐ-CP có mức phạt đến 1 tỷ đồng đối với cá nhân và 2 tỷ đồng đối với tổ chức, trong khi đó ngư dân chủ yếu là người làm thuê, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không có khả năng nộp phạt với số tiền lớn, ngoài ra, các chủ tàu có nghề biển là kế mưu sinh duy nhất, tài sản là tàu thuyền đều cầm cố tại ngân hàng.
Thứ hai, một số cá nhân, tổ chức bị xử phạt có nơi cư trú, trụ sở ở tỉnh khác cách xa đơn vị Cảnh sát biển nên việc thi hành quyết định gặp khó khăn, dễ dẫn đến vi phạm thời hạn chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Thứ ba, công tác phối hợp, trao đổi thông tin với lực lượng chức năng, chính quyền địa phương chưa toàn diện, nhất là các tàu cá hoạt động dài ngày hết hạn đăng ký, đăng kiểm, không về địa phương. Bên cạnh đó, tại một số địa phương việc quản lý các tàu cá và thuyền viên lúc xuất bến còn chưa chặt chẽ.
Thứ tư, vùng biển Việt Nam rộng, tiếp giáp với nhiều quốc gia, trong khi đó các lực lượng tuần tra trên biển còn mỏng; một số khu vực biển chưa phân định rõ ràng, chồng lấn, nên khó khăn trong việc xác định hành vi đưa tàu cá sang vùng biển của quốc gia khác khai thác thủy sản trái phép.
Thứ năm, trình độ dân trí của một bộ phận ngư dân còn thấp, ý thức chấp hành pháp luật còn chưa cao, chưa có ý thức khai thác thủy sản gắn với bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn lợi hải sản trên biển; quá trình hành nghề trên biển thường không mang theo các loại giấy tờ về tàu, bằng cấp, chứng chỉ chuyên môn thuyền viên hoặc giấy tờ tùy thân, gây khó khăn trong việc kiểm tra, kiểm soát, xác minh tính hợp pháp về người và phương tiện cũng như áp dụng các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm việc xử lý.
Để khắc phục những khó khăn, hạn chế, bất cập nêu trên và thực hiện thống nhất trong xử lý vi phạm hành chính, hình sự đối với hành vi vi phạm trong chống IUU, thời gian tới, các cơ quan, đơn vị, cán bộ nghiệp vụ pháp luật cần tập trung nghiên cứu kỹ các quy định tại Nghị định số 38/2024/NĐ-CP và Nghị quyết số 04/2024/NQ-HĐTP. Trong quá trình tuần tra, kiểm tra, kiểm soát, điều tra, xử lý vụ việc cần lưu ý những nội dung, cụ thể như sau:
Đối với các hành vi vi phạm hành chính về thủy sản theo quy định tại Nghị định số 38/2024/NĐ-CP
Nếu phát hiện các hành vi vi phạm quy định tại Nghị định số 38/2024/NĐ-CP thuộc thẩm quyền của Cảnh sát biển, thì người có thẩm quyền của đơn vị Cảnh sát biển tiến hành điều tra, xác minh, kết luận vụ việc, ra Quyết định xử phạt và tổ chức thực hiện quyết định xử phạt theo thẩm quyền hoặc đề xuất cấp có thẩm quyền xử phạt theo quy định của pháp luật. Trường hợp vụ việc có hành vi vi phạm nghiêm trọng trong chống khai thác IUU quy định tại Điều 20 hoặc hành vi vi phạm mà có hình thức xử phạt bổ sung là: tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; tịch thu thủy sản, tịch thu ngư cụ, tịch thu tàu cá; tước quyền sử dụng văn bằng, chứng chỉ thuyền trưởng tàu cá và tước quyền sử dụng Giấy phép khai thác thủy sản có thời hạn quy định tại Nghị định số 38/2024/NĐ-CP thì người có thẩm quyền tạm giữ lập biên bản tạm giữ hoặc ra quyết định tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính và dẫn giải về cảng gần nhất của đơn vị để điều tra, xác minh, xử lý vụ việc theo quy định.
Lưu ý: đối với các vụ việc cần phải xác minh, làm rõ về hồ sơ, tài liệu, trang thiết bị của tàu cá, văn bằng, chứng chỉ, giấy tờ của thuyền viên, người làm việc trên tàu cá…, để có căn cứ xác định có hay không có hành vi vi phạm thì các đơn vị thực hiện việc tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép chứng chỉ hành nghề theo quy định tại Điều 125 Luật Xử lý vi phạm hành chính; không được căn cứ vào hồ sơ, tài liệu photo mà chưa được công chứng, chứng thực của cơ quan chức năng có thẩm quyền để xác định hành vi vi phạm hành chính, kết luận xử lý vụ việc. Trong trường hợp này, trước khi ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, cần phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương xác minh, kiểm chứng thông tin tàu cá, chủ sở hữu hoặc người quản lý, sử dụng hợp pháp tàu cá, thuyền trưởng có đúng với đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính không; xác minh làm rõ cơ quan chức năng, địa phương có trách nhiệm quản lý tàu cá trên.
Đối với vụ việc không thuộc thẩm quyền của Cảnh sát biển Việt Nam: Nếu phát hiện hành vi vi phạm trong lĩnh vực thủy sản được quy định tại Nghị định số 38/2024/NĐ-CP mà không thuộc thẩm quyền của Cảnh sát biển, thì đơn vị Cảnh sát biển phải tiến hành lập biên bản ghi nhận vụ việc, biên bản làm việc, biên bản vi phạm hành chính đối với cá nhân, tổ chức vi phạm có liên quan và bàn giao cho cơ quan có thẩm quyền theo quy định. Tuy nhiên, căn cứ vào tình hình thực tiễn, có thể tiến hành những công việc sau: lập biên bản tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; biên bản niêm phong tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; tổ chức lực lượng dẫn giải tàu vi phạm về bờ để tiếp tục điều tra, xác minh, làm rõ vụ việc; ra quyết định tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; kết luận và bàn giao vụ việc cho cơ quan, người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật hoặc bàn giao vụ việc ngay sau khi về bờ.
Về khó khăn tổ chức thi hành các quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định số 38/2024/NĐ-CP: Các cơ quan, đơn vị, cán bộ nghiệp vụ pháp luật chủ động nghiên cứu và vận dụng linh hoạt các quy định từ Điều 70 đến Điều 88 của Luật Xử lý vi phạm hành chính và các văn bản có liên quan đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Trong đó, i) Trường hợp tổ chức, cá nhân đang gặp khó khăn về kinh tế, có thể được xem xét hoãn thi hành quyết định phạt tiền hoặc giảm, miễn tiền phạt theo quy định tại Điều 76, Điều 77 của Luật Xử lý vi phạm hành chính và khoản 2 Điều 22 của Nghị định số 118/2021/NĐ-CP ngày 23/12/2021 của Chính phủ; ii) Trường hợp tổ chức, cá nhân vi phạm không tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, có thể xem xét vận dụng quy định của khoản 1 Điều 71 Luật Xử lý vi phạm hành chính chuyển quyết định xử phạt đến UBND huyện nơi cư trú của cá nhân, trụ sở của tổ chức vi phạm để thi hành. Trước khi chuyển quyết định xử phạt vi phạm hành chính, các đơn vị Cảnh sát biển chủ động phối hợp với cơ quan chức năng của UBND tỉnh để tham mưu cấp có thẩm quyền chỉ đạo UBND huyện (nơi thường trú của cá nhân, tổ chức vi phạm) hoặc trực tiếp phối hợp trong việc chuyển giao, tiếp nhận và thi hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Việc bàn giao Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đảm bảo chặt chẽ, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Điều 71 Luật Xử lý vi phạm hành chính và khoản 1 Điều 22 Nghị định số 118/2021/NĐ-CP ngày 23/12/2021 của Chính phủ.
Đối với việc áp dụng Nghị quyết số 04 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định của Bộ luật Hình sự về truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi liên quan đến khai thác, mua bán, vận chuyển trái phép thủy sản
Các cơ quan, đơn vị tiếp tục tăng cường công tác nắm tình hình trên biển và địa bàn có liên quan; phối hợp chặt chẽ với các cơ quan tư pháp, cơ quan quản lý nhà nước về thủy sản tại địa phương để xác minh, điều tra, xử lý hình sự theo quy định của pháp luật các vụ việc vi phạm nghiêm trọng, có tính chất phức tạp, có tổ chức, trong đó, tập trung vào các vụ việc tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh để đưa tàu cá, ngư dân Việt Nam đi khai thác thủy sản trái phép ở ngoài vùng biển Việt Nam; tháo gỡ, tàng trữ, vận chuyển thiết bị giám sát hành trình tàu cá; cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử...
Lưu ý, đối với hành vi được Nghị quyết số 04 hướng dẫn áp dụng các Điều 188, Điều 189, Điều 242, Điều 347, Điều 348 của Bộ luật Hình sự để truy cứu trách nhiệm hình sự, thuộc thẩm quyền khởi tố, điều tra của Cảnh sát biển, các đơn vị Cảnh sát biển chủ trì tiến hành điều tra, xác minh, kết luận vụ việc, ra quyết định khởi tố vụ án; hoàn thiện hồ sơ và chuyển giao cho Công an, Viện kiểm sát nhân dân địa phương theo quy định. ii) Đối với hành vi được Nghị quyết số 04 hướng dẫn áp dụng các Điều 198, Điều 244, Điều 287, Điều 349, Điều 341 của Bộ luật Hình sự không thuộc thẩm quyền khởi tố, điều tra của Cảnh sát biển, các đơn vị khẩn trương điều tra, xác minh, kết luận vụ việc và hoàn thiện hồ sơ, chuyển cho cơ quan chức năng xử lý theo quy định.
Có thể khẳng định rằng, Nghị định số 38/2024/NĐ-CP ngày 05/4/2024 của Chính phủ; Nghị quyết số 04/2024/NQ-HĐTP ngày 12/6/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự về truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi liên quan đến khai thác, mua bán, vận chuyển trái phép thủy sản là 2 văn bản pháp lý quan trọng làm căn cứ xử lý các hành vi vi phạm trong lĩnh vực thủy sản. Trong thời gian qua, Đảng ủy, Thủ trưởng Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển và cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị Cảnh sát biển đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo triển khai kịp thời, đầy đủ toàn diện các nội dung văn bản và đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ, từng bước góp phần ngăn chặn tàu cá Việt Nam vi phạm vùng biển nước ngoài, tiến tới mục tiêu gỡ “thẻ vàng” của Ủy ban châu Âu EC./.
Đại tá, ThS. LƯƠNG ĐÌNH HƯNG
Cục trưởng Cục Nghiệp vụ và Pháp luật Cảnh sát biển Việt Nam