25/11/2025 02:36:00 PM
(Canhsatbien.vn) -
Cảnh sát biển Việt Nam là lực lượng vũ trang nhân dân, lực lượng chuyên trách của Nhà nước làm nòng cốt thực thi pháp luật và bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn trên biển. Vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức và hoạt động của Cảnh sát biển Việt Nam có mối liên hệ mật thiết với pháp luật, gắn với công tác nghiên cứu, tham mưu cấp có thẩm quyền hoàn thiện pháp luật và tăng cường hiệu quả thi hành pháp luật nhằm bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của quốc gia, dân tộc trên biển và quản lý an ninh, trật tự, an toàn trên các vùng biển, đảo Việt Nam.
Những năm qua, Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng luôn xác định Cảnh sát biển Việt Nam là một trong những Lực lượng được xây dựng tiến thẳng lên hiện đại; thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, ưu tiên đầu tư về mọi mặt, đặc biệt là hoàn thiện tổ chức bộ máy các cơ quan thi hành pháp luật của Cảnh sát biển Việt Nam. Biên chế, quân số cán bộ, nhân viên có trình độ nghiệp vụ pháp luật ngày một gia tăng, được điều động, lựa chọn, tuyển dụng từ nhiều nguồn khác nhau. Công tác quản lý, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ pháp luật cho đội ngũ cán bộ, nhân viên Cảnh sát biển luôn được Đảng ủy, Thủ trưởng Bộ Tư lệnh, cấp ủy, chỉ huy các cấp quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo; thực hiện nhiều chủ trương, giải pháp nhằm xây dựng, bảo đảm cơ cấu, chất lượng của đội ngũ cán bộ theo kế hoạch, lộ trình, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ Cảnh sát biển Việt Nam cả về trước mắt và lâu dài.
Số lượng cán bộ nghiệp vụ pháp luật Cảnh sát biển Việt Nam ngày càng gia tăng, nhất là số cán bộ trẻ qua đào tạo tại các học viện, nhà trường trong và ngoài Quân đội. Đội ngũ này có trình độ chuyên môn tốt, có kiến thức pháp luật quốc tế, pháp luật quốc gia về biển; có nhận thức rõ ràng, đầy đủ về các quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của Việt Nam trên Biển Đông và vận dụng hiệu quả trong nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán, lợi ích quốc gia, dân tộc trên biển; đồng thời luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, công tâm, khách quan, đấu tranh hiệu quả với nhiều loại tội phạm, vi phạm pháp luật trên biển. Theo số liệu từ năm 2010 đến năm 2023, trừ năm 2017 thiếu so với biên chế, các năm còn lại đều thừa so với biên chế; thời điểm năm 2023, cán bộ nghiệp vụ pháp luật chiếm tỷ lệ 30,1% trong tổng số biên chế cán bộ của Cảnh sát biển Việt Nam; tất cả đều đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn cán bộ, phù hợp tổ chức, biên chế và cơ cấu đội ngũ cán bộ Cảnh sát biển Việt Nam. Về cơ bản đội ngũ cán bộ nghiệp vụ pháp luật Cảnh sát biển Việt Nam đang thực hiện ngày càng tốt hơn chức trách, nhiệm vụ được giao, nhất là trong công tác nghiên cứu, tham mưu, đề xuất Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển Việt Nam báo cáo Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng lãnh đạo, chỉ đạo công tác hoàn thiện chính sách, pháp luật và nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi pháp luật trên biển.
Bên cạnh những mặt đạt được, kết quả thực hiện nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ nghiệp vụ pháp luật Cảnh sát biển Việt Nam còn một số điểm hạn chế, xuất phát từ các nguyên nhân cơ bản sau: (i) Đa số đều qua đào tạo ở nhiều cơ sở đào tạo với chương trình, chuyên ngành khác nhau, đều cần bồi dưỡng thêm kiến thức chuyên ngành thực thi pháp luật trên biển khi về nhận công tác. (ii) Cảnh sát biển Việt Nam chưa có cơ sở đào tạo, học viện, nhà trường riêng; chưa có chương trình đào tạo bảo đảm thống nhất, đồng bộ, chính quy nhằm chủ động tạo nguồn nhân lực nghiệp vụ pháp luật chất lượng cao về lâu dài. (iii) Khối lượng kiến thức cần đào tạo rất lớn, nhiều chuyên ngành, hệ thống pháp luật thường xuyên thay đổi, cập nhật mới, nhất là văn bản pháp luật thuộc hệ thống pháp luật Việt Nam1 và các điều ước quốc tế phổ cập toàn cầu, điều ước quốc tế khu vực, song phương, đa phương liên quan tới biển2. (iv) Công tác tập huấn nghiệp vụ pháp luật chưa được chú trọng nghiên cứu, tổ chức thực hiện; chất lượng chương trình bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ pháp luật chưa được chuẩn hóa; đối tượng tập huấn nghiệp vụ pháp luật chưa được phân loại, đánh giá khoa học và sát với vị trí, năng lực, trình độ, yêu cầu nhiệm vụ từng cán bộ; tính đồng bộ, hiệu quả của tập huấn nghiệp vụ pháp luật chưa cao.
Tập huấn nghiệp vụ pháp luật là quá trình đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện nhằm cung cấp cho cán bộ thực thi pháp luật những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm liên quan đến pháp luật, thi hành pháp luật. Tập huấn nghiệp vụ pháp luật đóng vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ pháp luật, nâng cao năng lực chỉ huy, quản lý, điều hành và hiệu lực, hiệu quả thi hành pháp luật cho đội ngũ cán bộ Cảnh sát biển Việt Nam. Qua đó, tác động trực tiếp tới hiệu quả tổ chức và hoạt động thực thi pháp luật trên biển của Cảnh sát biển Việt Nam, thể hiện ở các khía cạnh sau:
Thứ nhất, tập huấn nghiệp vụ pháp luật góp phần bảo đảm tính pháp lý trong hoạt động thực thi công vụ, nhiệm vụ của Cảnh sát biển Việt Nam vì giúp cán bộ Cảnh sát biển Việt Nam: (i) Nắm vững quy định pháp luật Việt Nam, quy định pháp luật quốc tế, vận dụng hiệu quả trong quá trình thực thi công vụ, nhiệm vụ bảo đảm đúng pháp luật. (ii) Hiểu rõ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng và trách nhiệm của Việt Nam trên các vùng biển cũng như quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân, ngư dân trên biển. (iii) Không ngừng nâng cao năng lực, trình độ, kiến thức nghiệp vụ pháp luật, tạo nền tảng vững chắc để kịp thời tham mưu, đề xuất cấp có thẩm quyền xử lý tình huống quốc phòng, an ninh trên biển đúng đối sách. (iv) Ra các quyết định xử lý vi phạm hành chính, tiến hành một số hoạt động điều tra hình sự bảo đảm nghiêm minh, đúng trình tự, thủ tục luật định, hạn chế tối đa sai sót về mặt pháp lý trong thực thi pháp luật trên biển.
Thứ hai, tập huấn nghiệp vụ pháp luật không chỉ giúp nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ pháp luật cho từng cán bộ Cảnh sát biển Việt Nam mà còn góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Cảnh sát biển Việt Nam vì tập huấn nghiệp vụ pháp luật: (i) Cung cấp các kiến thức pháp lý, tạo điều kiện rèn luyện khả năng, kỹ năng xử lý các tình huống pháp lý trên biển cho cán bộ Cảnh sát biển Việt Nam (tuần tra, kiểm tra, kiểm soát phương tiện, người, hàng hóa, hành lý trên biển; truy đuổi; bắt giữ; dẫn giải; điều tra xử lý). (ii) Hoàn thiện kỹ năng xử trí các tình huống quốc phòng, an ninh liên quan tới bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia dân tộc trên biển; nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm, vi phạm pháp luật trên biển (tội phạm ma túy; buôn lậu, gian lận thương mại; cướp biển, khủng bố, buôn người, nhập cư trái phép; buôn lậu vũ khí; khai thác trái phép tài nguyên, khoáng sản, hủy hoại môi trường biển…). (iii) Cập nhật thường xuyên các thay đổi trong quy định pháp luật quốc gia, pháp luật quốc tế, nâng cao chất lượng, hiệu quả thực thi pháp luật, nâng cao tính chuyên nghiệp trong quá trình thực thi công vụ, nhiệm vụ trên biển. (iv) Tạo dựng uy tín, lòng tin với nhân dân, các nước láng giềng, cộng đồng quốc tế trong hoạt động quản lý, bảo vệ biển, đảo gắn với phát triển kinh tế biển Việt Nam.
Thứ ba, tập huấn nghiệp vụ pháp luật giúp cán bộ nghiệp vụ pháp luật của Cảnh sát biển Việt Nam: (i) Cải thiện năng lực thực thi pháp luật trên biển thông qua việc nâng cao năng năng lực, trình độ theo hướng chuyên sâu trong nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước trên biển. (ii) Bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất, từng bước hình thành quy trình tiêu chuẩn trong thực thi pháp luật trên biển, bảo đảm thống nhất, đồng bộ trong xử lý các tình huống thực thi pháp luật trên biển. (iii) Tạo tiền đề nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị, cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát biển nói riêng với cơ quan, tổ chức, lực lượng thuộc Bộ Quốc phòng, bộ, ngành, chính quyền địa phương nói chung. (iv) Trang bị kiến thức hợp tác quốc tế, kỹ năng đối ngoại, khả năng làm việc với đối tác nước ngoài trong xử lý tình huống có tính chất xuyên quốc gia trên thực địa đúng quy trình, quy định. (v) Tăng cường khả năng phối hợp và hợp tác quốc tế hiệu quả trong quá trình thực thi pháp luật trên biển. (vi) Phát huy hiệu quả vai trò của Cảnh sát biển Việt Nam trong các cơ chế hợp tác quốc tế với lực lượng thực thi pháp luật trên biển, lực lượng Cảnh sát biển các nước.
Thời gian tới, tình hình chủ quyền, an ninh trên các vùng biển Việt Nam diễn biến ngày một nhanh chóng, phức tạp, khó lường. Các nước ven Biển Đông gia tăng các hoạt động quân sự, bán quân sự; kết hợp biện pháp chính trị, ngoại giao, pháp lý nhằm khẳng định các yêu sách về biển. Các cường quốc trên thế giới gia tăng hiện diện nhằm bảo vệ quyền tự do hàng hải, tự do hàng không và khẳng định lợi ích nước mình trên Biển Đông. Tội phạm, vi phạm pháp luật trên biển không có chiều hướng giảm, phương thức, thủ đoạn ngày một tinh vi, nguy hiểm, đặc biệt là tội phạm có tổ chức, xuyên quốc gia, mang tính chất quốc tế. Các yếu tố an ninh phi truyền thống như biến đổi khí hậu, khí tượng thủy văn, thiên tai, bão, lốc bất thường, suy giảm đa dạng sinh học, sự cố môi trường biển diễn biến ngày một phức tạp. Yêu cầu nhiệm vụ của Cảnh sát biển Việt Nam ngày một nặng nề hơn, đòi hỏi mỗi cán bộ không ngừng rèn luyện, học tập. Đổi mới, nâng cao chất lượng tập huấn nghiệp vụ pháp luật là nội dung rất quan trọng cần được cấp ủy, chỉ huy các cấp tích cực chủ động tham mưu, đề xuất, chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện theo các phương hướng, giải pháp sau:
Một là, thường xuyên quán triệt và tổ chức triển khai thực hiện nghiêm các văn kiện, nghị quyết của Đảng, Quân ủy Trung ương về xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; về cải cách tư pháp và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật; về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; về đổi mới công tác giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng Quân đội trong tình hình mới; về xây dựng xã hội học tập suốt đời.
Hai là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, chỉ huy các cấp trong tham mưu, đề xuất xây dựng chương trình và tổ chức tập huấn nghiệp vụ pháp luật trong toàn lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam.
Ba là, tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền và đổi mới công tác tập huấn nghiệp vụ pháp luật với nhiều chương trình, hình thức phong phú, đa dạng, chuyên sâu, thiết thực để mọi cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát biển nhận thức rõ hơn về vị trí, ý nghĩa, tầm quan trọng, sự cần thiết của việc tham gia các chương trình tập huấn nghiệp vụ pháp luật của Cảnh sát biển Việt Nam.
Bốn là, xây dựng và hoàn thiện các cơ chế, chính sách phù hợp để vận động, khuyến khích mọi cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát biển tích cực, chủ động tham gia các khóa tập huấn nghiệp vụ pháp luật để nâng cao trình độ năng lực pháp luật đáp ứng yêu cầu chức trách, nhiệm vụ được giao.
Năm là, kịp thời biểu dương, tôn vinh, khen thưởng các gương điển hình tiên tiến, nhân rộng các mô hình tốt, sáng kiến có giá trị để nâng cao chất lượng tập huấn nghiệp vụ pháp luật; đồng thời chấn chỉnh và có chế tài xử lý nghiêm khắc đối với các tổ chức, cá nhân không tích cực hoặc có biểu hiện hình thức trong công tác tập huấn nghiệp vụ pháp luật.
Sáu là, phát huy trách nhiệm của cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy các cấp và vai trò của các cơ quan làm công tác pháp luật của Cảnh sát biển Việt Nam, nhất là người đứng đầu trong tham mưu, đề xuất xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình tập huấn nghiệp vụ pháp luật, cụ thể theo hướng:
(i) Xây dựng chương trình, giáo án tập huấn nghiệp vụ pháp luật toàn diện; chú trọng cập nhật, bổ sung quy định mới của pháp luật Việt Nam, pháp luật quốc tế có liên quan; kết hợp phân loại cán bộ để tập huấn bảo đảm phù hợp với cấp bậc, chức danh, nhiệm vụ; ưu tiên mô hình giảng dạy mô phỏng tình huống, đào tạo thực hành, ứng dụng khoa học công nghệ, trí tuệ nhân tạo trong tập huấn nghiệp vụ pháp luật.
(ii) Tăng cường hợp tác với các cơ sở đào tạo về pháp luật trong và ngoài Quân đội để xây dựng các chương trình tập huấn theo hướng chuyên sâu trong từng ngành, lĩnh vực quản lý nhà nước trên biển.
(iii) Từng bước củng cố, kiện toàn, tổ chức lại Trung tâm Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ Cảnh sát biển; lựa chọn cán bộ có năng lực pháp luật, có khả năng giảng dạy đưa đi đào tạo tại các khóa đào tạo, tập huấn chuyên sâu về pháp luật để tạo nguồn cho đội ngũ giảng viên Cảnh sát biển Việt Nam; chuẩn bị cơ sở hạ tầng, vật chất phục vụ đào tạo trước khi báo cáo cấp có thẩm quyền cho phép thành lập Học viện Cảnh sát biển Việt Nam.
(iv) Tăng cường tập huấn theo hướng kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn thi hành pháp luật, chú trọng các địa bàn trọng điểm về quốc phòng, an ninh; tổ chức huấn luyện thực tiễn trên các vùng biển có chế độ pháp lý khác nhau để cán bộ Cảnh sát biển Việt Nam nắm vững được quy trình, các bước xử lý tình huống pháp lý trên thực địa; rèn luyện phương pháp, tác phong làm việc hiện đại và khả năng làm việc trong môi trường quốc tế.
(vi) Thiết lập hệ thống kiểm tra, đánh giá bảo đảm kịp thời phát hiện những thiếu sót, vướng mắc trong chương trình, giáo án tập huấn; xây dựng hệ thống bài kiểm tra, bài thi, ngân hàng câu hỏi để có cơ chế đánh giá chính xác chất lượng cán bộ Cảnh sát biển Việt Nam sau tập huấn.
(vi) Xây dựng cơ chế tạo điều kiện tự học tập, tự nghiên cứu pháp luật; chọn lọc, đào tạo những cán bộ có năng lực đặc biệt trong nghiên cứu, thi hành pháp luật để tạo nguồn cán bộ giảng dạy, đào tạo pháp luật trong đội ngũ cán bộ Cảnh sát biển Việt Nam.
Nâng cao chất lượng tập huấn nghiệp vụ pháp luật cho cán bộ Cảnh sát biển Việt Nam là nhu cầu tất yếu khách quan, rất cần thiết, góp phần trực tiếp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Cảnh sát biển Việt Nam về nghiệp vụ pháp luật nói riêng, xây dựng Cảnh sát biển Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại nói chung nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia, bảo vệ an ninh quốc gia, quản lý trật tự, an toàn trên biển./.
Trung tá, ThS. HÀ TUẤN ANH
Phó Trưởng Phòng Pháp chế/Cục Nghiệp vụ và Pháp luật Cảnh sát biển Việt Nam