25/11/2025 09:03:00 AM
(Canhsatbien.vn) -
Trước bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập sâu rộng về kinh tế quốc tế hiện nay, biển, đại dương có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển kinh tế, xã hội, củng cố an ninh, quốc phòng mỗi quốc gia. Việt Nam sở hữu một vùng biển rộng nhưng phải đối mặt với nhiều thách thức về an ninh, trật tự, bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Trước bối cảnh đó, đòi hỏi Lực lượng Cảnh sát biển phải có thẩm quyền đầy đủ, rõ ràng hơn để thực hiện tốt nhiệm vụ của mình. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành vẫn còn nhiều bất cập, đặc biệt là về thẩm quyền điều tra, cơ chế phối hợp liên ngành trong quá trình điều tra, do vậy việc xác định và hoàn thiện các quy định của pháp luật về thẩm quyền điều tra của Lực lượng Cảnh sát biển đóng vai trò then chốt trong bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn trên các vùng biển.
Lực lượng chức năng Cảnh sát biển kiểm tra tàu vận chuyển trái phép dầu DO trên vùng biển Tây Nam.
Cảnh sát biển Việt Nam là lực lượng vũ trang nhân dân, lực lượng chuyên trách của Nhà nước, được giao nhiệm vụ tuần tra, kiểm tra, kiểm soát thực thi pháp luật, đảm bảo an ninh, trật tự, bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam trên các vùng biển. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, Cảnh sát biển Việt Nam gặp không ít khó khăn do các quy định của pháp luật hiện hành về thẩm quyền điều tra chưa thực sự rõ ràng, đầy đủ, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình. Thực tế cho thấy việc xác định rõ ràng, cụ thể thẩm quyền tiến hành tố tụng của Cảnh sát biển Việt Nam là một yếu tố quan trọng đảm bảo tính pháp lý, hiệu quả hoạt động của Lực lượng. Tuy nhiên, hiện nay các quy định về thẩm quyền tố tụng của Cảnh sát biển Việt Nam còn chưa rõ ràng, chưa đầy đủ… dẫn đến tình trạng lúng túng trong xử lý và khó khăn trong công tác phối hợp giữa các lực lượng chức năng.
Thẩm quyền điều tra của Cảnh sát biển Việt Nam được quy định trong các văn bản pháp luật như: Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015, Luật Cảnh sát biển Việt Nam năm 2018, Luật Biên giới quốc gia năm 2003, Luật Thủy sản năm 2017, Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2015, Nghị định số 61/2018/NĐ-CP quy định chi tiết về tổ chức và hoạt động của Cảnh sát biển Việt Nam và một số văn bản quy phạm pháp luật khác trong nước và quốc tế có liên quan, những văn bản này cung cấp cơ sở pháp lý cho các hoạt động của Cảnh sát biển Việt Nam trong việc điều tra, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trên các vùng biển.
Trong thực tiễn hoạt động của Cảnh sát biển Việt Nam gặp phải những khó khăn, vướng mắc về thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra như:
Một là, chưa có sự thống nhất giữa Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 với Luật Tổ chức Cơ quan Điều tra hình sự 2015 về thẩm quyền trưng cầu giám định, cụ thể:
Điểm b, Khoản 1 Điều 32 và Điểm b, Khoản 1 Điều 35 Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự 2015 quy định: khi giải quyết các vụ tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng thì Cảnh sát biển được quyền trưng cầu giám định. Tuy nhiên, tại Khoản 3, Điều 39 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định về quyền hạn của người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong các cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra của Cảnh sát biển lại không quy định thẩm quyền này. Sự không thống nhất trong quy định của pháp luật dẫn đến việc ra các quyết định trưng cầu giám định của Cảnh sát biển Việt Nam rất khó khăn, ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án.
Hai là, chưa có sự thống nhất giữa các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 về thẩm quyền của cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra trong việc ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, việc ra quyết định tạm giữ, cụ thể:
Chưa có sự thống nhất trong quy định về thẩm quyền ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp và thẩm quyền ra quyết định tạm giữ: Theo quy định tại Điều 110 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, những người thuộc Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam có quyền ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp và có quyền ra quyết định tạm giữ bao gồm: Tư lệnh Vùng; Cục trưởng Cục Nghiệp vụ và Pháp luật; Đoàn trưởng Đoàn Đặc nhiệm phòng, chống tội phạm ma túy. Tuy nhiên, Khoản 2, Khoản 3 Điều 39 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 lại quy định người vừa nêu trên đây chỉ được áp dụng biện pháp ngăn chặn khi tiến hành tố tụng hình sự “đối với tội phạm ít nghiêm trọng trong trường hợp phạm tội quả tang, chứng cứ và lý lịch người phạm tội rõ ràng”, còn các trường hợp khác (tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng...) thì Luật lại không quy định những người này được áp dụng biện pháp ngăn chặn. Sự không thống nhất trong các quy định trên khiến cho Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam khó ra quyết định tạm giữ các đối tượng trong các vụ án từ nghiêm trọng trở lên hoặc tội phạm ít nghiêm trọng nhưng phức tạp. Chưa có sự thống nhất giữa các các điều luật trong Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định về thẩm quyền của thủ trưởng, của cán bộ điều tra thuộc Cảnh sát biển Việt Nam trong việc thực hiện một số biện pháp điều tra như triệu tập bị can, hỏi cung bị can, khám nghiệm hiện trường, khám xét, kết luận điều tra, truy nã...: Theo quy định tại Khoản 2, Khoản 3, Điều 39 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, cấp trưởng, cấp phó của cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra Cảnh sát biển có quyền triệu tập, hỏi cung bị can, ghi lời khai người làm chứng, người bị hại; tổ chức việc khám nghiệm hiện trường; khám xét, thu giữ, tạm giữ vật chứng, tài liệu liên quan đến vụ án; tại Khoản 4, Điều 39 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, cán bộ điều tra của cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra Cảnh sát biển có quyền hỏi cung bị can. Tuy nhiên tại các Điều 182, 183, 185,188, 193 và Điều 198 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 lại quy định việc triệu tập, hỏi cung bị can, người làm chứng, bị hại, việc khám xét, việc tạm giữ tài liệu, đồ vật khi khám xét do điều tra viên tiến hành mà không đề cập đến cấp trưởng, cấp phó, cán bộ điều tra của cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra được thực hiện các biện pháp điều tra này. Tương tự, theo quy định tại Điểm g, Khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 thì khi tiến hành điều tra các vụ tội phạm ít nghiêm trọng, quả tang, chứng cứ và lý lịch người phạm tội rõ ràng, cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra của Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam được kết luận điều tra, đề nghị truy tố hoặc kết luận điều tra và quyết định đình chỉ điều tra; quyết định tạm đình chỉ điều tra; quyết định phục hồi điều tra. Tuy nhiên, khi nghiên cứu các quy định Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 tại Điều 229 (tạm đình chỉ điều tra), Điều 230 (đình chỉ điều tra), Điều 233, 234 (về bản kết luận điều tra) và Điều 235 (phục hồi điều tra), chúng ta thấy Luật chỉ quy định chủ thể thực hiện các quyền này là cơ quan điều tra mà không đề cập gì đến cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra. Điều này dẫn đến lúng túng trong áp dụng pháp luật: Cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra được tạm đình chỉ điều tra, được phục hồi điều tra trong trường hợp nào? Những quy định về bản kết luận điều tra có bắt buộc áp dụng đối với cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra không? Như vậy, Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 tuy có quy định về thẩm quyền của cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra nhưng lại chưa quy định việc thực hiện quyền hạn đó như thế nào.
Theo quy định tại Điều 164 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 thì đối với tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng hoặc tội phạm ít nghiêm trọng nhưng phức tạp thì cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra quyết định khởi tố vụ án hình sự, tiến hành hoạt động điều tra ban đầu và chuyển hồ sơ vụ án cho cơ quan điều tra có thẩm quyền trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án hình sự. Tuy nhiên, tại Điều 169 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định về chuyển vụ án để điều tra lại chỉ quy định đến việc cơ quan điều tra đề nghị chuyển vụ án mà không đề cập đến việc cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện các biện pháp này. Quy định trên đây dẫn đến sự không thống nhất trong nhận thức và áp dụng quy định về hoạt động “chuyển vụ án” của cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra. Có ý kiến cho rằng, trong vòng 7 ngày kể từ khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra phải đề nghị Viện Kiểm sát nhân dân ra quyết định chuyển vụ án đến cơ quan điều tra có thẩm quyền theo quy định tại Điều 169 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng, Điều 169 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 chỉ quy định việc cơ quan điều tra chuyển vụ án chứ không quy định việc cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra chuyển vụ án nên đối với cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra khi chuyển vụ án không cần quyết định chuyển vụ án của Viện Kiểm sát mà chỉ cần bàn giao hồ sơ, tang vật vụ án cho cơ quan điều tra có thẩm quyền.
Ngoài ra, theo quy định tại các Điều 39, 164, 231 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 thì cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra của Cảnh sát biển không có thẩm quyền ra các quyết định truy nã. Như vậy, trong quá trình điều tra gặp phải tình huống bị can trốn, không biết bị can đang ở đâu thì Cảnh sát biển Việt Nam giải quyết thế nào?
Ba là, vướng mắc do một số quy định của Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015 về thẩm quyền điều tra của cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra Cảnh sát biển đối với các loại tội phạm
Theo quy định tại Điều 35 Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015 thì Lực lượng Cảnh sát biển được tiến hành một số hoạt động điều tra đối với các tội phạm quy định tại Chương XIII và các Điều 188, 189, 227, 235, 236, 237, 242, 249, 250, 251,252, 253, 254, 272, 273, 282, 284, 303, 304, 305, 309, 311, 346, 347 và 348 của Bộ luật Hình sự xảy ra trên các vùng biển và thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Cảnh sát biển Việt Nam quản lý.
Những quy định trên đây là cần thiết và cơ bản phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam. Tuy nhiên, xuất phát từ vị trí, chức năng, nhiệm vụ của Cảnh sát biển, là lực lượng nòng cốt, chuyên trách quản lý, bảo vệ an ninh, trật tự, an toàn trên biển tại địa bàn hoạt động có tính đặc thù, xa các nơi đặt trụ sở của các cơ quan chính quyền Nhà nước, chỉ những phương tiện đặc thù mới đến được. Do đó, việc Luật giới hạn Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam chỉ được điều tra một số loại tội phạm trên đây dẫn đến những hạn chế, vướng mắc trong công tác đấu tranh, xử lý với một số loại tội phạm khác, thường xảy ra trên biển. Trên các vùng biển, một số loại tội phạm xảy ra nhưng Cảnh sát biển không có thẩm quyền giải quyết là: các loại tội phạm liên quan đến vi phạm quy định về phòng, chống dịch bệnh, về bảo vệ động vật quý hiếm, về bảo tồn thiên nhiên, nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại (từ Điều 239 đến Điều 246 BLHS); tội phạm liên quan đến ma túy (Điều 248, 255, 256, 257, 259 Bộ luật Hình sự); tội cướp biển (Điều 302). Tuy nhiên, do không có thẩm quyền tiến hành xác minh, điều tra các loại tội phạm nêu trên, trong khi các cơ quan điều tra có thẩm quyền thường ở rất xa, không thể thông báo hoặc bàn giao hồ sơ tài liệu kịp thời; đặc biệt, có trường hợp cơ quan có thẩm quyền không thể tiếp cận hiện trường vì trên biển, hoặc không có phương tiện nên các cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra rất lúng túng.
Từ các bất cập nêu trên, chúng tôi đề xuất một số giải pháp để hoàn thiện các quy định của pháp luật về thẩm quyền điều tra của Cảnh sát biển Việt Nam như sau:
Thứ nhất, rà soát và cập nhật các văn bản pháp luật có liên quan đến thẩm quyền điều tra của Lực lượng Cảnh sát biển
Việc rà soát phải toàn diện, thực hiện rà soát toàn diện các quy định hiện hành về thẩm quyền điều tra của Cảnh sát biển Việt Nam để phát hiện những điểm bất cập, chồng chéo hoặc thiếu rõ ràng, từ đó có sự tham mưu xử lý kịp thời. Ngoài ra cũng cần xây dựng cơ chế cập nhật định kỳ các văn bản pháp luật có liên quan nhằm đảm bảo các quy định của pháp luật luôn phù hợp với thực tiễn hoạt động điều tra nói riêng, yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm, vi phạm pháp luật và bảo vệ chủ quyền biển đảo nói chung.
Thứ hai, đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật hiện hành
Dựa trên kết quả rà soát, cập nhật định kỳ các văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động điều tra, đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật hiện hành nhằm khắc phục các hạn chế, bất cập và đáp ứng yêu cầu thực tiễn, nhất là các quy định về thẩm quyền điều tra của Cảnh sát biển Việt Nam được quy định trong các Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015, Luật Cảnh sát biển năm 2018 và một số văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan, theo hướng tăng thẩm quyền và có sự thống nhất trong các quy định đối với thẩm quyền điều tra của Cảnh sát biển Việt Nam.
Thứ ba, xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành và có quy định rõ ràng về trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan thực thi pháp luật
Việc thiết lập cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa Cảnh sát biển Việt Nam với các cơ quan chức năng khác như Công an, Bộ đội Biên phòng, Hải quan, Kiểm ngư để đảm bảo sự hiệp đồng kịp thời, chặt chẽ và hiệu quả hơn trong công tác điều tra, xử lý tội phạm, vi phạm pháp luật trên biển. Đồng thời quy định rõ ràng về trách nhiệm và quyền hạn của từng cơ quan trong các văn bản pháp luật để tránh chồng chéo và mâu thuẫn với Cảnh sát biển Việt Nam trong quá trình thực thi nhiệm vụ.
Thứ tư, tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật
Việc tăng cường tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật, nhất là các quy định về thẩm quyền điều tra của Cảnh sát biển Việt Nam đến các cơ quan, tổ chức và người dân để hiểu hơn, có sự hợp tác chặt chẽ và chấp hành nghiêm khi Cảnh sát biển Việt Nam tiến hành các hoạt động điều tra, từ đó nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật nói chung và ý thức bảo vệ an ninh trật tự, an toàn biển đảo nói riêng. Việc tuyên truyền có thể tiến hành rộng rãi bằng sử dụng các kênh thông tin đại chúng, mạng xã hội để lan tỏa và nâng cao ý thức cộng đồng, hoặc có thể tiến hành các buổi tuyên truyền tập trung thông qua các buổi tuyên truyền pháp luật của Cảnh sát biển Việt Nam, hoặc có thể tuyên truyền miệng đến từng cá nhân, nhóm người cụ thể.
Thứ năm, hoàn thiện cơ chế pháp lý và quy định điều tra, cũng như nâng cao năng lực và kỹ năng điều tra cho cán bộ Cảnh sát biển
Cần xây dựng và ban hành quy trình chuẩn về điều tra, xử lý vi phạm, thu thập chứng cứ phù hợp với các văn bản pháp luật hiện hành, đảm bảo tính minh bạch, hiệu quả trong công tác điều tra. Bên cạnh đó cũng cần tổ chức nhiều khóa đào tạo, tập huấn về các kỹ năng điều tra, xử lý tội phạm trên biển thuộc thẩm quyền điều tra của Cảnh sát biển Việt Nam. Đồng thời, đẩy mạnh sự hợp tác với các lực lượng chức năng trong nước và lực lượng thực thi pháp luật trên biển các nước để trao đổi kinh nghiệm, nâng cao trình độ chuyên môn và tiếp cận khoa học tiên tiến trong điều tra, xử lý tội phạm, vi phạm./.
Thiếu tá TRẦN ĐÌNH KIỂU
Phòng Pháp chế, Cục Nghiệp vụ và Pháp luật Cảnh sát biển
Đại úy, ThS. CÀ VĂN TÂM
Học viện An ninh nhân dân, Bộ Công an