07/12/2025 10:02:00 AM
(Canhsatbien.vn) -
Ngày 5/4/2024, Chính phủ ban hành Nghị định số 38/2024/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thủy sản, có hiệu lực thi hành từ ngày 20/5/2024. Nghị định này thay thế Nghị định số 42/2019/NĐ-CP với nhiều điểm mới quan trọng nhằm tăng cường công tác quản lý, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản, đồng thời đảm bảo tính răn đe đối với các hành vi vi phạm trong lĩnh vực thủy sản ở nước ta.

Lực lượng chức năng tuyên truyền cho ngư dân Côn Đảo những quy định về phòng, chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU). Ảnh: ĐỨC HẠNH
Những điểm mới của Nghị định số 38/2024/NĐ-CP không chỉ siết chặt chế tài xử phạt mà còn góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của ngư dân và doanh nghiệp hoạt động trong ngành thủy sản. Hiện nay, công tác quản lý, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản ở nước ta đặt ra yêu cầu ngày càng cao trong bối cảnh hoạt động khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản đang đối diện với nhiều thách thức, đặc biệt là yêu cầu gỡ bỏ cảnh báo “thẻ vàng” từ Ủy ban châu Âu (EC) đối với ngành thủy sản Việt Nam. Nghị định này quy định về hành vi vi phạm hành chính, hình thức, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền lập biên bản và thẩm quyền xử phạt đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực thủy sản. Trên cơ sở kế thừa và bổ sung những quy định từ Nghị định số 42/2019/NĐ-CP, Nghị định mới đã điều chỉnh, bổ sung nhiều nội dung quan trọng nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, đồng thời bảo đảm công bằng trong xử lý vi phạm hành chính đối với lĩnh vực thủy sản. Trong đó nổi bật ở một số nội dung như sau: Khoản 3, Điều 2, Nghị định số 38/2024/NĐCP bổ sung quy định chủ tàu cá là đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính. Theo đó hộ kinh doanh phải đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, hộ gia đình, chủ tàu cá thực hiện hành vi vi phạm hành chính quy định tại Nghị định này bị xử phạt vi phạm như đối với cá nhân. Bên cạnh đó, so với quy định tại Nghị định số 42, Nghị định số 38 đã quy định tăng thời gian xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuỷ sản từ 01 năm lên 02 năm.
Từ thực tiễn cho thấy hiện nay mức phạt một số hành vi quy định tại Nghị định số 42 còn cao so với thu nhập của các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh với quy mô nhỏ, ngư dân thực hiện khai thác thủy sản với các phương tiện nghề cá nhỏ; do đó Nghị định số 38 đã điều chỉnh một số mức phạt theo hướng chia nhỏ để phù hợp, bảo đảm tính khả thi khi Quyết định xử phạt vi phạm hành chính được ban hành. Theo đó, một số hành vi vi phạm được Nghị định số 38 quy định giảm mức phạt như: Hành vi xuất khẩu giống thủy sản có tên trong Danh mục loài thủy sản xuất khẩu có điều kiện nhưng không đáp ứng điều kiện, trừ trường hợp được cơ quan có thẩm quyền cấp phép (Khoản 1, Điều 11); Hành vi nơi bày bán, bảo quản thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản không cách biệt hoặc bị ô nhiễm bởi thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, hóa chất độc hại của cơ sở mua bán, nhập khẩu (điểm a, Khoản 1, Điều 14); Hành vi không có thiết bị, dụng cụ để bảo quản thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản theo hướng dẫn của nhà sản xuất, nhà cung cấp (điểm b, Khoản 1 Điều 14),…
Một số hành vi vi phạm trong lĩnh vực thủy sản đã được Nghị định số 38 bổ sung chế tài xử phạt, quy định từ Điều 11 đến Điều 15 của Nghị định này, cụ thể: Hành vi nhập khẩu giống thủy sản không có tên trong Danh mục loài thủy sản được phép kinh doanh tại Việt Nam mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, trừ trường hợp được cơ quan có thẩm quyền cấp phép (bị phạt tiền từ 40 triệu đồng đến 50 triệu đồng, theo Khoản 2, Điều 11); Hành vi lưu giữ, vận chuyển, giới thiệu thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản nhập khẩu có thành phần không thuộc Danh mục hóa chất, chế phẩm sinh học, vi sinh vật, nguyên liệu sản xuất thức ăn được phép sử dụng trong nuôi trồng thủy sản tại Việt Nam mà chưa được cấp phép (mức phạt hành chính theo số lượng sản phẩm, tối đa lên đến 20 triệu đồng, theo Khoản 3, Điều 13); Hành vi không duy trì điều kiện sản xuất thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản theo quy định (bị phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng, theo Khoản 2, Điều 14); Hành vi không báo cáo tình hình sản xuất, nhập khẩu theo quy định (bị phạt tiền từ 3 triệu đồng đến 5 triệu đồng, theo điểm a, Khoản 2, Điều 15); Hành vi không thông báo theo quy định khi sản xuất, nhập khẩu sản phẩm do cơ sở khác công bố (bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 10 triệu đồng, theo điểm b, Khoản 2, Điều 15).
Ngoài các biện pháp khắc phục hậu quả đã được quy định tại các điểm a, b, d, đ, e, và g, Khoản 1, Điều 28 của Luật Xử lý vi phạm hành chính, Nghị định số 38 cũng sửa đổi, bổ sung và quy định các biện pháp khắc phục hậu quả áp dụng trong lĩnh vực thủy sản. Cụ thể tại Khoản 3, Điều 4 quy định các hình thức khắc phục hậu quả đối với một số hành vi vi phạm là: a) Buộc thả thủy sản, giống thủy sản còn sống trở lại môi trường sống của chúng; b) Buộc chuyển giao thủy sản thuộc Nhóm I của Danh mục loài thủy sản nguy cấp, quý, hiếm đã chết cho cơ quan có thẩm quyền; c) Buộc thả bổ sung loài thủy sản theo quy định; d) Buộc chuyển đổi mục đích sử dụng loài thủy sản hoặc giống thủy sản hoặc thức ăn thủy sản hoặc sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản, trường hợp không đáp ứng được yêu cầu chuyển đổi thì buộc tiêu hủy thủy sản hoặc giống thủy sản hoặc thức ăn thủy sản hoặc sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản; đ) Buộc chủ tàu cá chi trả kinh phí đưa công dân Việt Nam bị cơ quan có thẩm quyền nước ngoài bắt giữ, xử lý về nước; e) Buộc nộp lại giấy chứng nhận, xác nhận, giấy phép, văn bản chấp thuận, chứng chỉ bị tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung; g) Buộc vây bắt, tiêu diệt loài thủy sản sống bị thoát ra môi trường tự nhiên hoặc thủy sản được cho sinh sản trái phép từ loài thủy sản sống; h) Buộc thu hồi thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản; i) Buộc hủy bỏ kết quả đăng kiểm; k) Buộc di dời hoặc phá dỡ công trình nuôi trồng thủy sản; l) Buộc tái xuất tàu cá nhập khẩu, trường hợp không thể tái xuất tàu cá thì buộc chuyển đổi mục đích sử dụng tàu cá hoặc phá dỡ tàu cá hoặc đánh đắm tàu cá; m) Buộc chuyển đổi mục đích sử dụng tàu cá hoặc phá dỡ tàu cá; n) Buộc treo Quốc kỳ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc cờ quốc tịch theo quy định; o) Buộc tàu cá nước ngoài (trừ tàu container) vận chuyển thủy sản có nguồn gốc từ khai thác bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, chuyển khẩu, quá cảnh vào Việt Nam hoặc ra khỏi lãnh thổ Việt Nam; p) Buộc trả lại diện tích đã lấn chiếm; q) Buộc tái xuất thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản nhập khẩu, trường hợp không thể tái xuất thì buộc tiêu hủy”.
Bên cạnh đó, một số biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực thủy sản được Nghị định số 38 sửa đổi, bổ sung nhằm phù hợp với thực tiễn như: Buộc loại bỏ yếu tố vi phạm trên nhãn, bao bì, phương tiện kinh doanh, vật phẩm thể hiện tên giống thủy sản đối với hành vi đặt tên giống thủy sản không theo quy định; Buộc tái xuất giống thuỷ sản, trường hợp không thể tái xuất thì buộc tiêu hủy giống thủy sản đối với hành vi nhập khẩu giống thủy sản không có tên trong Danh mục loài thủy sản được phép kinh doanh tại Việt Nam mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, trừ trường hợp được cơ quan có thẩm quyền cấp phép;…
Ngoài bổ sung quy định về chế tài xử phạt và các biện pháp khắc phục hậu quả, Nghị định số 38 đồng thời sửa đổi, bổ sung thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của lực lượng thanh tra theo từng chức danh. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính được thay đổi theo hướng tinh gọn bộ máy, giảm đầu mối và phù hợp với Luật Thanh tra năm 2022 và Nghị định số 03/2024/NĐ-CP ngày 11/01/2024 của Chính phủ quy định về cơ quan được giao chức năng thanh tra chuyên ngành và hoạt động của cơ quan được giao chức năng thanh tra chuyên ngành, cấp Trung ương: bỏ cấp Tổng cục, chỉ có cấp Cục, còn tại địa phương bỏ Chi cục, chỉ còn thẩm quyền Thanh tra Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Với vai trò là lực lượng vũ trang nhân dân, lực lượng chuyên trách của Nhà nước, làm nòng cốt thực thi pháp luật và bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn trên biển, Cảnh sát biển Việt Nam có vai trò quan trọng trong việc quản lý, giám sát các hoạt động đối với lĩnh vực thủy sản.
Điều 49, Nghị định số 38/2024/NĐ-CP của Chính phủ quy định cụ thể thẩm quyền xử phạt vi phạm trong lĩnh vực thủy sản của Cảnh sát biển Việt Nam gắn với từng chức danh. Theo đó Cảnh sát viên Cảnh sát biển đang thi hành công vụ có quyền phạt tiền đến 1,5 triệu đồng; Tổ trưởng Tổ nghiệp vụ Cảnh sát biển có quyền phạt tiền đến 5 triệu đồng; Đội trưởng Đội nghiệp vụ Cảnh sát biển, Trạm trưởng Trạm Cảnh sát biển có quyền phạt tiền đến 10 triệu đồng và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các điểm a, c và đ, Khoản 1, Điều 28 Luật Xử lý vi phạm hành chính và Khoản 3, Điều 4 Nghị định này; Hải đội trưởng Hải đội Cảnh sát biển có quyền phạt tiền đến 25 triệu đồng, tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá 2 lần mức tiền phạt quy định tại điểm a Khoản này và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các điểm a, c, d và đ, Khoản 1, Điều 28 Luật Xử lý vi phạm hành chính và Khoản 3, Điều 4 Nghị định này; Hải đoàn trưởng Hải đoàn Cảnh sát biển, Đoàn trưởng Đoàn Trinh sát, Đoàn trưởng Đoàn Đặc nhiệm phòng chống tội phạm ma túy thuộc Cảnh sát biển Việt Nam có quyền phạt tiền đến 50 triệu đồng, tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá 2 lần mức tiền phạt quy định tại điểm a Khoản này và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các điểm a, d và đ, Khoản 1, Điều 28 Luật Xử lý vi phạm hành chính và Khoản 3, Điều 4 Nghị định này; Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển, Cục trưởng Cục Nghiệp vụ và pháp luật thuộc Cảnh sát biển Việt Nam có quyền phạt tiền đến 100 triệu đồng, tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn, tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các điểm a, d và đ, Khoản 1, Điều 28 Luật Xử lý vi phạm hành chính và Khoản 3, Điều 4 Nghị định này; Tư lệnh Cảnh sát biển Việt Nam có quyền phạt tiền đến 1 tỷ đồng, tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn, tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các điểm a, b, d và đ, Khoản 1, Điều 28 Luật Xử lý vi phạm hành chính và Khoản 3, Điều 4 Nghị định này.
Dựa trên thẩm quyền xử phạt vi phạm trong lĩnh vực thủy sản, Điều 55, Nghị định số 38 quy định về phân định thẩm quyền xử phạt của Cảnh sát biển Việt Nam. Theo đó, Cảnh sát biển Việt Nam xử phạt đối với những hành vi vi phạm hành chính quy định tại Điều 6; Điều 7; Điều 8; Điều 9; Điều 20; Điều 21; Điều 23; Điều 24; Điều 25; Điều 26; Điều 27; Điều 28; Điều 29; Điều 30; Điều 33; Điều 35; Điều 36; Điều 37; Điều 38; Điều 41; Điều 42; Điều 43 và Điều 44 theo thẩm quyền quy định tại Điều 49 Nghị định này và chức năng, nhiệm vụ được giao. Ngoài ra, tại điểm c, Khoản 9, Điều 18, Nghị định số 38 quy định bổ sung Cảnh sát biển Việt Nam là cơ quan, đơn vị thực hiện tiếp nhận, thu thập dữ liệu phản ánh vi phạm hành chính về thủy sản.
Với những điểm mới về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thủy sản và thẩm quyền xử phạt của các lực lượng chức năng liên quan, Nghị định số 38 sẽ góp phần nâng cao hiệu quả công tác thực thi pháp luật đối với lĩnh vực thủy sản ở nước ta. Trong quá trình triển khai Nghị định, Cảnh sát biển Việt Nam đóng vai trò nòng cốt, vừa là lực lượng kiểm tra, giám sát, vừa trực tiếp xử lý vi phạm, đặc biệt là hành vi khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU). Qua đó từng bước nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của ngư dân, góp phần chung tay cùng chính quyền và nhân dân các địa phương sớm gỡ bỏ “thẻ vàng” của Ủy ban châu Âu (EC) đối với ngành thủy sản nước ta, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi trong việc bảo vệ nguồn lợi biển và phát triển nghề cá bền vững.
THANH PHƯƠNG