07/12/2025 03:02:00 PM
(Canhsatbien.vn) -
Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2015 (Luật số 95/2015/QH13) có hiệu lực từ ngày 01/7/2017, bao gồm các quy định về tàu biển, thuyền viên, cảng biển, luồng hàng hải, cảng cạn, vận tải biển, an toàn hàng hải, an ninh hàng hải, bảo vệ môi trường, quản lý nhà nước về hàng hải và các hoạt động khác liên quan đến việc sử dụng tàu biển vào mục đích kinh tế, văn hóa, xã hội, thể thao, công vụ và nghiên cứu khoa học.
Trong đó, Điều 12 của Bộ luật quy định 14 hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động hàng hải; việc nắm rõ nội dung các hành vi bị nghiêm cấm và hậu quả pháp lý tương ứng sẽ góp phần làm rõ ý nghĩa của khung pháp lý trong hoạt động hàng hải, đồng thời nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật cho các tổ chức và cá nhân liên quan.
Khoản 1, Điều 12, Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2015 quy định các hành vi “Gây phương hại hoặc đe dọa gây phương hại đến chủ quyền và an ninh quốc gia” đối với vùng biển Việt Nam đều bị nghiêm cấm. Hành vi này bao gồm mọi hoạt động xâm phạm trái phép vùng biển Việt Nam hoặc đe dọa chủ quyền, an ninh quốc gia và an ninh hàng hải trong vùng biển Việt Nam. Ngoài căn cứ vào Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2015 để xác định hành vi vi phạm, có thể căn cứ mức độ và hình thức xử lý vi phạm dựa vào các nội dung quy định cụ thể tại Luật Biển Việt Nam năm 2012, Nghị định số 142/2017/ NĐ-CP của Chính phủ về Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng hải, Điều 9 và Điều 12 Luật Cảnh sát biển Việt Nam và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan tương ứng với từng trường hợp vi phạm cụ thể,...
Khoản 2, Điều 12 cấm “Vận chuyển người, hàng hóa, hành lý, vũ khí, chất phóng xạ, chất phế thải độc hại, chất ma túy trái với quy định của pháp luật” trong vùng biển Việt Nam. Cụ thể hóa nội dung này, Nghị định số 42/2020/NĐ-CP, ngày 8/4/2020 Chính phủ đã quy định danh mục hàng hóa nguy hiểm, vận chuyển hàng hóa nguy hiểm bằng phương tiện giao thông cơ giới đường bộ và vận chuyển hàng hóa nguy hiểm trên đường thủy nội địa. Tùy tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm, hành vi này có thể bị xử phạt hành chính, tịch thu phương tiện, trục xuất (đối với tàu nước ngoài), hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Các lực lượng thực thi pháp luật như Cảnh sát biển Việt Nam, Bộ đội Biên phòng, Hải quan có thẩm quyền kiểm tra, bắt giữ, xử lý các hành vi vi phạm này nhằm bảo vệ chủ quyền quốc gia, đảm bảo an ninh, an toàn hàng hải trong vùng biển Việt Nam và tuân thủ các cam kết quốc tế mà Việt Nam là quốc gia thành viên.
Khoản 3, Điều 12 nêu rõ hành vi “Cố ý tạo chướng ngại vật gây nguy hiểm hoặc làm cản trở giao thông hàng hải” là vi phạm pháp luật. Hành vi này bao gồm vi phạm quy định về bảo đảm an toàn hàng hải và bảo vệ môi trường khi xây dựng mới hoặc cải tạo, nâng cấp cảng biển hoặc khi xây dựng, lắp đặt các công trình, thiết bị khác ảnh hưởng đến an toàn hàng hải; tạo ra các chướng ngại vật trong vùng nước cảng biển và vùng biển Việt Nam gây ảnh hưởng đến hoạt động hàng hải. Đối với hành vi này, cá nhân vi phạm sẽ bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng, trường hợp tổ chức vi phạm thì sẽ chịu mức phạt tiền bằng 2 lần mức phạt tiền đối với cá nhân (theo Điều 5 Nghị định 142/2017/ NĐ-CP); ngoài ra cá nhân, tổ chức còn bị buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do hành vi vi phạm.
Khoản 4, Điều 12 quy định“Sử dụng, khai thác tàu biển không đăng ký, đăng kiểm hoặc quá hạn đăng ký, đăng kiểm; giả mạo đăng ký, đăng kiểm” là một hành vi bị nghiêm cấm trong lĩnh vực hàng hải. Quy định này là yêu cầu cơ bản về tính hợp pháp của phương tiện hàng hải nhằm bảo đảm mọi tàu thuyền tham gia hoạt động hàng hải đều phải tuân thủ nghiêm các thủ tục đăng ký quốc tịch và kiểm định an toàn kỹ thuật trong quá trình hoạt động trên biển. Mức xử phạt về hành vi vi phạm các quy định về đăng ký, đăng kiểm và giấy phép vận tải nội địa của tàu biển còn được quy định cụ thể tại Điều 16 Nghị định số 162/2013/NĐ-CP và khoản 8, Điều 3 Nghị định số 37/2022/NĐ-CP của Chính phủ, theo đó phương tiện tham gia hoạt động hàng hải bị xem là vi phạm nếu thiếu một trong các loại tài liệu, giấy chứng nhận của tàu thuyền; một trong các loại tài liệu, giấy chứng nhận của tàu thuyền hết giá trị sử dụng, trừ giấy chứng nhận đăng ký tàu biển hoặc không có giấy phép rời cảng cuối cùng theo quy định.
Khoản 5, Điều 12 quy định phương tiện tham gia hoạt động hàng hải bị nghiêm cấm “Từ chối tham gia tìm kiếm, cứu nạn trên biển trong trường hợp điều kiện thực tế cho phép”. Về nghĩa vụ pháp lý, các chủ tàu và thủy thủ có trách nhiệm hỗ trợ tìm kiếm, cứu nạn khi phát hiện tai nạn hàng hải trong điều kiện cho phép; đồng thời quy định này thể hiện tính nhân đạo và trách nhiệm pháp lý bắt buộc đối với tàu thuyền trong hoạt động hàng hải, phù hợp với thông lệ và chuẩn mực quốc tế, đặc biệt là các điều khoản của Công ước An toàn sinh mạng trên biển (SOLAS 1974) và Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS 1982). Trường hợp phương tiện cố ý từ chối tham gia tìm kiếm, cứu nạn trên biển trong trường hợp điều kiện thực tế cho phép thì có thể bị truy cứu, xem xét xử lý theo Nghị định số 142/2017/ NĐ-CP của Chính phủ về Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng hải hoặc Điều 132 Bộ luật Hình sự về tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng.
Khoản 6, Điều 12 nêu rõ hành vi “Gây ô nhiễm môi trường” bị nghiêm cấm trong hoạt động hàng hải. Quy định này thể hiện quan điểm nhất quán của Nhà nước trong việc kết hợp giữa phát triển kinh tế biển với bảo vệ môi trường biển thông qua kiểm soát các nguồn chất thải nguy hại nhằm bảo vệ hệ sinh thái biển, giữ gìn đa dạng sinh học và sinh kế của cộng đồng ven biển. Trường hợp cá nhân, tổ chức gây ô nhiễm môi trường trong hoạt động hàng hải, tùy mức độ vi phạm và hậu quả gây ra có thể bị xử lý theo Nghị định số 48/2011/NĐ-CP của Chính phủ về Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng hải, Bộ luật Hình sự năm 2015 hoặc các văn bản có liên quan.
Hành vi “Xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm người trên tàu biển; chiếm đoạt, cố ý làm hư hỏng hoặc hủy hoại tài sản trên tàu biển; bỏ trốn sau khi gây tai nạn” là hành vi bị nghiêm cấm, quy định tại khoản 7, Điều 12 Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2015. Đây là quy định nhằm bảo vệ toàn diện quyền con người và tài sản trong môi trường đặc thù của hoạt động hàng hải - nơi sự cách biệt với đất liền khiến việc tiếp cận pháp lý, y tế và an ninh trở nên hạn chế. Việc xâm hại sức khoẻ, danh dự hoặc tài sản trên tàu không chỉ là hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền cá nhân mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến an toàn của hành trình hàng hải; tùy tính chất và mức độ vi phạm, các hành vi này có thể bị xử phạt hành chính, đình chỉ hoạt động hàng hải hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015.
Khoản 8, Điều 12 quy định hành vi “Gây mất trật tự công cộng, cản trở hoặc chống lại việc thực hiện nhiệm vụ của người thi hành công vụ trên tàu biển và tại cảng biển”. Đặc trưng của hoạt động hàng hải là sự vận hành phức tạp, liên quan trực tiếp đến an toàn sinh mạng con người, tài sản và lợi ích quốc gia, do đó, mọi hành vi gây rối trật tự, cản trở hoặc chống lại người thi hành công vụ đều tiềm ẩn nguy cơ gây ra hậu quả nghiêm trọng về pháp lý, xã hội và an toàn hàng hải. Việc chống người thi hành công vụ thể hiện sự xem thường pháp luật, xâm hại trực tiếp đến quyền lực nhà nước và cần được xử lý nghiêm minh. Các hành vi này có thể bị xử phạt hành chính theo Nghị định 167/2013/NĐ-CP, hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo các Điều 318, Điều 330 Bộ luật Hình sự 2015.
Khoản 9 và khoản 10 của Điều 12 quy định cấm “Phá hủy, làm hư hỏng, tháo gỡ, trộm cắp cấu kiện, phụ kiện, vật tư, vật liệu xây dựng và các thiết bị của công trình hàng hải” và “Làm hư hỏng, phá hủy, tự ý di chuyển hoặc làm giảm hiệu lực của báo hiệu hàng hải”. Quy định nhằm bảo vệ hệ thống hạ tầng phục vụ hoạt động hàng hải như cầu cảng, phao neo, đèn báo hiệu luồng, cột mốc, phao tiêu…, mọi hư hại đối với hệ thống hạ tầng này đều tiềm ẩn nguy cơ gây tai nạn cho tàu thuyền và làm gián đoạn hoạt động hàng hải. Theo quy định tại Điều 5 và điểm a khoản 3 Điều 19 Nghị định 142/2017/NĐCP về mức xử phạt đối với hành vi phạm quy định về bảo vệ công trình hàng hải, trường hợp cá nhân, tổ chức vi phạm quy định này có thể bị phạt tiền từ 40 triệu đồng đến 120 triệu đồng, đồng thời có biện pháp khắc phục hậu quả đối với công trình hàng hải bị hư hại (xây dựng, tổ chức thực hiện phương án bảo vệ hoặc khôi phục lại tình trạng ban đầu công trình hàng hải).
Khoản 11, Điều 12 Bộ luật Hàng hải năm 2015 quy định việc “Nổ mìn hoặc các vật liệu nổ khác trong phạm vi cảng biển, vùng nước cảng biển, luồng hàng hải khi chưa được sự cho phép của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền” là hành vi bị nghiêm cấm. Trong trường hợp không được các cơ quan có thẩm quyền cấp phép và giám sát, hành vi này có nguy cơ gây mất an toàn hàng hải, đe dọa tính mạng con người và phương tiện hàng hải; phá hoại cơ sở hạ tầng, tác động trực tiếp đến an ninh, trật tự khu vực biển xảy ra sự việc. Cá nhân, tổ chức vi phạm có thể bị xử phạt hành chính theo Điều 11 Nghị định 144/2021/NĐ-CP hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 305 Bộ luật Hình sự năm 2015 nếu gây hậu quả nghiêm trọng.
Khoản 12 và khoản 13 Điều 12 Bộ luật Hàng hải năm 2015 cấm các hành vi “Xây dựng và khai thác trái phép các công trình cảng biển, công trình khác trong phạm vi quy hoạch cảng biển đã được phê duyệt, trong luồng hàng hải và phạm vi bảo vệ công trình hàng hải” và “Xây dựng công trình làm giảm hoặc mất tác dụng của công trình hàng hải”. Hệ thống các công trình cảng biển, công trình hàng hải là yếu tố có ý nghĩa chiến lược trong bảo vệ tính toàn vẹn, tính liên kết của hệ thống hạ tầng hàng hải quốc gia; gắn chặt với vấn đề đảm bảo an ninh, an toàn hàng hải, phòng chống thiên tai và phục vụ mục đích quốc phòng. Do đó, mọi hoạt động xây dựng, khai thác trái phép hoặc gây cản trở công trình hàng hải đều tiềm ẩn nguy cơ phá vỡ cấu trúc quy hoạch và liên kết đồng bộ giữa các công trình đã có, gây mất an ninh, an toàn hàng hải. Trường hợp vi phạm, cá nhân, tổ chức có thể bị xử phạt hành chính theo Nghị định số 142/2017/NĐ-CP và buộc phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả; hoặc xử lý bằng biện pháp tư pháp theo mục a, khoản 3 Điều 82 Bộ luật Hình sự năm 2015 và chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 298 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Khoản 14, Điều 12 nghiêm cấm hành vi “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái quy định về quản lý hàng hải; dung túng, bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật về hàng hải”. Đây là quy định có tính nguyên tắc nhằm ngăn chặn tình trạng lạm quyền, tha hóa trong lĩnh vực hàng hải - một lĩnh vực gắn liền với lợi ích quốc gia về kinh tế, an ninh và chủ quyền biển đảo. Trong bối cảnh đất nước hội nhập và bước vào kỷ nguyên vươn mình, mọi biểu hiện hoặc hành vi lợi dụng quyền lực để trục lợi cá nhân, làm ngơ cho sai phạm nói chung, trong lĩnh vực hàng hải nói riêng đều là mầm mống gây thất thoát tài sản công, suy yếu hiệu lực quản lý nhà nước; làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Tùy thuộc vào hành vi và mức độ vi phạm, đối tượng liên quan có thể bị xử lý từ hình thức kỷ luật đến truy cứu trách nhiệm hình sự theo một số điều tại Mục 1 Chương XXIII Bộ luật Hình sự năm 2015.
Điều 12 Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2015 là một chế định pháp luật mang tính nền tảng nhằm đảm bảo an toàn, an ninh, trật tự và phát triển bền vững trong lĩnh vực hàng hải. Với việc liệt kê 14 nhóm hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động hàng hải, điều luật thể hiện quan điểm nhất quán của Nhà nước ta về nguyên tắc thượng tôn pháp luật, trách nhiệm công vụ và chuẩn mực đạo đức trong quản lý, khai thác và sử dụng không gian hàng hải quốc gia; xác lập “giới hạn đỏ” trong các hành vi mà cá nhân, tổ chức không được phép thực hiện trong lĩnh vực hàng hải; đồng thời cho thấy trách nhiệm và sự minh bạch của Việt Nam trong việc xây dựng môi trường hàng hải quốc tế an ninh, an toàn, thịnh vượng vì lợi ích chung.
MINH ĐĂNG