07/12/2025 03:33:00 PM
(Canhsatbien.vn) -
Việt Nam là quốc gia nằm ở ven bờ Tây của Biển Đông, những tiềm năng của không gian biển hội tụ đủ các điều kiện để Việt Nam có thể giàu từ biển, mạnh từ biển. Sự nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của biển và có chiến lược biển đúng đắn để tận dụng cơ hội, hạn chế những thách thức do biển cả mang lại là yêu cầu đã, đang và tiếp tục được đặt ra một cách cấp thiết đối với Việt Nam. Tuy nhiên, không gian biển rộng lớn của Việt Nam cũng chứa đựng những khó khăn, thách thức trong quá trình hoạch định và thực hiện chiến lược biển, điều đó đòi hỏi cần có sự phân tích, nhận thức đầy đủ và có các biện pháp ứng phó thích nghi, phù hợp trong tình hình mới.

Khai thác dầu khí tại mỏ Bạch Hổ.
Ảnh: TRƯỜNG SƠN
Trong chiến lược phát triển của các quốc gia hiện nay, các lý thuyết địa chính trị có tầm ảnh hưởng rất lớn. Lãnh đạo của các quốc gia luôn quan tâm đến việc phát huy, tận dụng lợi thế địa chính trị cho sự phát triển. Trong đó, lý thuyết "sức mạnh biển", "địa chính trị biển đảo" là các lý thuyết được quan tâm và có tầm ảnh hưởng rộng lớn bởi vai trò sức mạnh biển và đại dương đối với một quốc gia đang thay đổi nhanh chóng trong hơn một thế kỷ qua. Đề cập đến điều này, từ cuối thế kỷ XIX, lý thuyết sức mạnh biển của Alfred Thayer Mahan đã khẳng định rằng sự kiểm soát biển cả sẽ tạo nên sự thịnh vượng của các quốc gia.
Quốc gia ven biển là một quốc gia có 5 vùng biển với phạm vi, chế độ pháp lý khác nhau gồm vùng nước nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Chủ quyền các quốc gia ven biển gồm chủ quyền đối với vùng nội thủy và lãnh hải. Các quốc gia ven biển và đại dương đều đang nỗ lực xây dựng các chiến lược chinh phục, kiểm soát các không gian biển để củng cố sự thịnh vượng cho mình trong khu vực và trên thế giới.
Chiến lược biển của một quốc gia có thể được hiểu là tập hợp các chương trình hành động, kế hoạch và biện pháp cụ thể liên quan đến quản lý, khai thác, bảo vệ và sử dụng biển đảo và các lợi ích mang lại từ biển trong các lĩnh vực an ninh quốc phòng trên biển, hợp tác quốc tế về biển, phân định biển, phát triển kinh tế biển, bảo vệ môi trường biển, khoa học công nghệ về biển, năng lượng biển và nhiều lĩnh vực khác liên quan đến biển. Chiến lược biển hiện nay được nghiên cứu theo trường phái hiện đại gắn với các vấn đề cách mạng thông tin, toàn cầu hóa chứ không chỉ dừng ở các cuộc chiến tranh liên quan đến vũ trang và hải quân. Các chiến lược biển đều cần tuân theo quy định pháp lý của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS 1982).
Nhận thức được tầm quan trọng của việc phát huy sức mạnh biển trong quá trình phát triển đất nước, ngày 9/2/2007, Đảng ta đã thông qua chiến lược biển đầu tiên tại Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) với Nghị quyết số 09-NQ/ TW về “Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020” với mục tiêu tổng quát đến năm 2020, phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển. Nghị quyết đã xác định các quan điểm chỉ đạo về định hướng Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020: Một là, nước ta phải trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển trên cơ sở phát huy mọi tiềm năng từ biển; Hai là, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng - an ninh, bảo vệ môi trường; Ba là, khai thác mọi nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội, trên tinh thần chủ động, tích cực mở cửa; tranh thủ hợp tác quốc tế, theo nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước. Sau 10 năm thực hiện Nghị quyết số 09-NQ/ TW về “Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020”, nhận thức của toàn hệ thống chính trị, nhân dân về vị trí, vai trò của biển, đảo đối với phát triển kinh tế, bảo vệ chủ quyền quốc gia được nâng lên rõ rệt.
Năm 2018, Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (khóa XII) đã thông qua Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược Phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Mục tiêu tổng quát là đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh; đạt cơ bản các tiêu chí về phát triển bền vững kinh tế biển; hình thành văn hóa sinh thái biển; chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng; ngăn chặn ô nhiễm, suy thoái môi trường biển, sạt lở bờ biển và biển xâm thực; phục hồi và bảo tồn các hệ sinh thái biển. Những thành tựu khoa học mới, tiên tiến, hiện đại trở thành nhân tố trực tiếp thúc đẩy phát triển bền vững kinh tế biển. Chiến lược xác định tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh, an toàn; kinh tế biển đóng góp quan trọng vào nền kinh tế đất nước, góp phần xây dựng nước ta thành nước công nghiệp hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa; tham gia chủ động và có trách nhiệm vào giải quyết các vấn đề quốc tế và khu vực về biển và đại dương.
Ngày 28/6/2024, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 139/2024/QH15 về Quy hoạch không gian biển quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Ngay sau đó, ngày 27/2/2025, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 37/NQ-CP về Kế hoạch thực hiện Quy hoạch không gian biển quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Đây là bước thể chế hóa quan trọng nhằm kiểm soát, phát huy và bảo vệ không gian biển quốc gia trong bối cảnh mới. Kế hoạch xác định lộ trình và nguồn lực thực hiện các chương trình, dự án để thực hiện Quy hoạch không gian biển quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050; giải quyết, xử lý các mâu thuẫn, chồng lấn về không gian trong khai thác, sử dụng tài nguyên biển; thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế biển, kết cấu hạ tầng biển, ven biển; bảo vệ, bảo tồn các giá trị tự nhiên, di sản văn hóa - lịch sử trên các vùng đất ven biển và vùng biển của Việt Nam; tháo gỡ các điểm nghẽn, bất cập, tiếp tục thu hút các nguồn lực xã hội trong việc thực hiện quy hoạch không gian biển quốc gia.
Quan hệ giữa các mảng không gian cho phát triển kinh tế biển và tổ chức không gian biển hợp lý cho phát triển kinh tế biển bền vững là một trong những nhiệm vụ quan trọng, cần đi trước một bước. Công cụ cơ bản giúp tổ chức hợp lý không gian biển cho phát triển bền vững là quy hoạch không gian biển. Do vậy, tư duy chiến lược địa chính trị Việt Nam cần đặc biệt quan tâm đến việc phát huy sức mạnh không gian biển rộng lớn đang sở hữu.
Việt Nam là quốc gia ven Biển Đông, sở hữu không gian biển rộng lớn, đóng vai trò chiến lược cả về địa chính trị, địa kinh tế và quốc phòng - an ninh. Biển Đông là tuyến hàng hải huyết mạch, kết nối các nền kinh tế lớn ở châu Á, với khoảng 45% lưu lượng hàng hóa toàn cầu đi qua, tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam mở rộng hợp tác và hội nhập quốc tế.
Về an ninh - quốc phòng, không gian biển, đặc biệt là hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là “phên dậu” quốc phòng, là tuyến phòng thủ chiến lược hướng Đông của Tổ quốc, giữ vai trò quan trọng trong bảo vệ chủ quyền và kiểm soát các tuyến hàng hải trọng yếu.
Trên phương diện phát triển kinh tế, không gian biển Việt Nam bao gồm vùng ven biển, không gian biển, không gian đảo và không gian đại dương. Đường bờ biển dài hơn 3.260 km (chưa tính bờ các đảo) với hệ sinh thái phong phú, tài nguyên dồi dào và cư dân đông đúc tạo nền tảng quan trọng để Việt Nam phát triển kinh tế biển bền vững, tạo điều kiện thuận lợi cho quy hoạch phát triển kinh tế biển, gắn với hội nhập sâu rộng trong kỷ nguyên đại dương.
Bên cạnh những thuận lợi, Việt Nam cũng đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức trong quy hoạch không gian biển: dải ven biển ở Việt Nam đang gặp một số vấn đề trong phát triển kinh tế, xã hội như khai thác ven bờ không hiệu quả, ô nhiễm môi trường biển, quy hoạch phá vỡ dải nối liền của không gian biển. Không gian biển rộng lớn dẫn đến nhiều thách thức về bảo vệ an ninh - quốc phòng, cạnh tranh ảnh hưởng nước lớn. Bên cạnh đó, nhận thức về vai trò, vị trí của biển, kinh tế biển của các cấp, các ngành, các địa phương ven biển và người dân còn chưa đầy đủ; quy mô chưa tương xứng với tiềm năng. Hạ tầng các vùng biển, ven biển và hải đảo còn manh mún, chưa đồng bộ và thường xuyên chịu ảnh hưởng của thiên tai. Đầu tư cơ sở nghiên cứu khoa học công nghệ về biển, đảo, quy hoạch không gian biển, tạo nguồn nhân lực cho kinh tế biển chưa cập nhật các xu hướng mới hiện đại. Điều đó dẫn tới kinh tế biển chưa hiệu quả và bền vững.
Thực tế đó đòi hỏi Việt Nam cần lựa chọn chiến lược phát triển kinh tế phù hợp để có thể khai thác, tận dụng hiệu quả lợi thế không gian biển. Kế hoạch thực hiện Quy hoạch không gian biển đến năm 2030 tầm nhìn 2050 đã xác định các nhóm giải pháp về thể chế, chương trình, dự án, về thu hút đầu tư, phát triển nhân lực, khoa học công nghệ, môi trường, hợp tác quốc tế. Trong đó cần đặc biệt chú trọng đảm bảo an ninh quốc phòng trên không gian biển. Đây là điều kiện tiên quyết để các địa phương ven biển, nhất là người dân có thể yên tâm làm ăn, đầu tư kinh tế từ khai thác lợi thế của không gian biển Việt Nam. Việc kết hợp chặt chẽ củng cố, tăng cường quốc phòng - an ninh trong chiến lược biển bền vững là rất cần thiết để đảm bảo sự ổn định phát triển cho các vùng ven biển, biển, đảo nhằm bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.
Bộ Quốc phòng cần chủ trì, phối hợp các lực lượng, trong đó trực tiếp là Quân chủng Hải quân, Bộ đội Biên phòng các tỉnh ven biển với Lực lượng Cảnh sát biển cùng các bộ, ngành, địa phương trong xây dựng các chương trình, đề án phù hợp với Quy hoạch không gian biển quốc gia về lĩnh vực quốc phòng - an ninh và phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế biển bền vững trong chiến lược biển quốc gia của Việt Nam.
Như vậy, với vị trí địa chiến lược trọng yếu của Biển Đông, việc khai thác, bảo vệ không gian biển của Việt Nam đòi hỏi xác lập cơ chế phối hợp liên ngành trong quản lý biển và giải quyết các quan hệ phát triển khác nhau. Để thực hiện chiến lược biển bền vững và đảm bảo an ninh quốc phòng cho không gian biển quốc gia, Việt Nam cần có tư duy biển, chiến lược biển hiện đại, dài hạn và quy hoạch không gian biển phù hợp trước tình hình mới trong nước và quốc tế. Bởi, địa chính trị của biển cả và đại dương sẽ luôn là một phần trong chính sách và lựa chọn của các quốc gia ở thế kỷ XXI. Việt Nam không nằm ngoài các quốc gia đó khi chiến lược biển của chúng ta cũng là sớm đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu về biển trong khu vực và trên thế giới.
Tiến sĩ NGUYỄN THỊ TỐ UYÊN
Khoa Khoa học chính trị và Nhân văn/Trường Đại học Ngoại Thương
TÀI LIỆU THAM KHẢO