07/12/2025 03:53:00 PM
(Canhsatbien.vn) -
Vùng biển phía Tây Nam là địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng về an ninh, quốc phòng, kinh tế… đối với Việt Nam. Là vùng biển rộng và kéo dài từ đất liền các tỉnh phía Tây Nam đến giáp ranh với Indonesia, Malaysia, Thái Lan và Campuchia, đã tạo nên giá trị to lớn về phát triển kinh tế hàng hải, du lịch và khai thác hải sản…; đặt ra nhiều vấn đề phức tạp về an ninh, trật tự và an toàn trên biển. Những năm qua, công tác phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép mặt hàng xăng, dầu trên biển nói chung, vùng biển Tây Nam nói riêng luôn được Cảnh sát biển Việt Nam quyết tâm thực hiện.

Tàu cá KG 93835 -TS vận chuyển dầu D.O trái phép trên vùng biển Tây Nam bị Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam bắt giữ. Ảnh: CSB 4
Tuy nhiên, các đối tượng buôn lậu, vận chuyển trái phép mặt hàng này luôn thay đổi phương thức, thủ đoạn hoạt động để đối phó với lực lượng chức năng. Đáng chú ý, thời gian qua, đối tượng thay vì sử dụng tàu vận chuyển dầu chuyên dụng được cấp phép, đã chuyển sang sử dụng tàu cá được cải hoán để tiến hành hoạt động vận chuyển trái phép dầu trên biển (chủ yếu là dầu D.O). Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu và triển khai các giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh với phương thức này là yêu cầu cấp thiết, góp phần giữ vững an ninh, trật tự, bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền trên biển, đồng thời bảo đảm sự phát triển bền vững kinh tế biển và kinh tế - xã hội trên vùng biển Tây Nam.
Thực trạng hoạt động sử dụng tàu cá cải hoán vận chuyển dầu trái phép trên vùng biển Tây Nam
Dầu D.O là mặt hàng đặc biệt quan trọng, giữ vai trò chiến lược, ảnh hưởng trực tiếp đến kinh tế - xã hội và an ninh, quốc phòng của đất nước. Mặt hàng này được Nhà nước quản lý nguồn nhập khẩu, điều phối giá và dự trữ chiến lược nhằm bảo đảm an ninh năng lượng, tạo sự ổn định phát triển kinh tế - xã hội. Do lợi nhuận thu được từ hoạt động buôn lậu mặt hàng này trên biển là rất lớn nên các đối tượng luôn tìm mọi cách để hoạt động.
Thời gian qua, tội phạm buôn lậu, vận chuyển trái phép dầu trên vùng biển Tây Nam bằng phương thức sử dụng tàu cá cải hoán diễn biến phức tạp. Chỉ tính trong năm 2024, Cảnh sát biển Việt Nam đã kiểm tra, bắt giữ, xử lý 59 vụ/58 tàu, tịch thu trên 2,3 triệu lít dầu D.O, phát mại nộp ngân sách Nhà nước số tiền 34,5 tỷ đồng. Trong đó, số lượng các tàu cá cải hoán tham gia vận chuyển và buôn lậu dầu D.O diễn ra rất phổ biến và ngày càng có chiều hướng gia tăng (chiếm 94,8% trong năm 2024). Theo thống kê, từ năm 2020 đến tháng 6/2025, Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 4 - đơn vị quản lý vùng biển Tây Nam - đã đấu tranh, bắt giữ, xử lý số lượng tàu cá cải hoán chiếm tới 98,4 % trong tổng số tàu, thu giữ trên 12,08 triệu lít dầu D.O (trị giá trên 155,9 tỷ đồng).
Tàu cá cải hoán là tàu có chức năng đánh bắt hải sản, được sửa chữa, cải hoán hầm chứa hải sản, nước đá…. để sử dụng với mục đích khác. Các đối tượng thường sử dụng tàu cá cũ, được cải hoán lại kết cấu hầm, khoang để chứa dầu với dung tích từ vài chục đến hàng trăm m3 . Việc cải hoán này chủ yếu được thực hiện ở các cơ sở tư nhân nhỏ, không có giấy phép hoặc không được giám sát chặt chẽ. Sau khi cải hoán, các tàu này thường không đăng ký lại hoặc đăng ký với hình thức ngụy trang, tiếp tục mang vỏ bọc tàu cá nhằm né tránh kiểm tra, giám sát từ lực lượng chức năng. Tàu cá cải hoán thường vận chuyển trái phép dầu vào ban đêm hoặc khi thời tiết xấu, trong khu vực giáp ranh giữa vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam với Campuchia, Thái Lan, Malaysia và Indonesia, nơi có sự chồng lấn về quản lý hành chính và địa lý phức tạp. Đáng chú ý, một số đối tượng còn thiết lập mạng lưới liên kết từ đất liền ra biển, tổ chức trạm bơm dầu giả danh “trạm hậu cần nghề cá”, gây khó khăn cho công tác kiểm soát.
Chính vì vậy, hoạt động sử dụng tàu cá cải hoán để vận chuyển dầu trái phép trên biển đã và đang gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển kinh tế, trật tự, an toàn xã hội của đất nước, nổi bật là:
Thứ nhất, ảnh hưởng đến kinh tế của đất nước. Nguồn thu ngân sách từ thuế nhập khẩu dầu bị thất thoát, làm giảm nguồn lực cho các hoạt động đầu tư và phát triển hạ tầng (với mỗi lít dầu D.O nhập lậu, ngân sách có thể mất đi từ 5% đến 15% giá trị thuế, tùy thuộc vào quy định hiện hành). Các doanh nghiệp hợp pháp trong ngành dầu khí bị cạnh tranh không công bằng, dẫn đến thiệt hại về lợi nhuận và ảnh hưởng đến việc làm của người lao động. Các hoạt động này cũng làm tăng nguy cơ lãng phí tài nguyên quốc gia (vì lượng dầu lậu không qua kiểm soát, mất cân đối cung - cầu); gây lãng phí nguồn lực trong ngành khai thác hải sản (tàu cá cải hoán không còn được sử dụng cho mục đích đánh bắt hải sản) trong bối cảnh khai thác hải sản được coi là “ngành kinh tế mũi nhọn” và yêu cầu cần “phát triển bền vững”.
Thứ hai, ảnh hưởng đến an ninh, trật tự trên biển. Tàu cá cải hoán tham gia buôn lậu dầu là một trong những nguyên nhân làm gia tăng tội phạm có tổ chức. Tình trạng buôn lậu dầu D.O thường liên quan đến các đường dây tội phạm xuyên quốc gia, gây khó khăn trong công tác quản lý và kiểm soát. Ngoài ra, tình trạng này còn phức tạp hóa tình hình an ninh, trật tự trên biển, làm gia tăng nguy cơ xung đột giữa tàu cá và lực lượng thực thi pháp luật. Đã có nhiều trường hợp thuyền viên trên tàu cá vận chuyển dầu trái phép sử dụng vũ khí chống đối Lực lượng Cảnh sát biển hoặc điều khiển tàu chạy trốn, gây mất an toàn trên biển.
Thứ ba, ảnh hưởng đến chủ quyền và uy tín quốc gia. Hoạt động buôn lậu xăng, dầu nói chung, sử dụng tàu cá để buôn lậu dầu D.O nói riêng làm suy giảm uy tín của Việt Nam trong các cam kết quốc tế về chống buôn lậu và bảo đảm an ninh biển. Mặt khác, tình trạng tàu cá tham gia buôn lậu, vận chuyển dầu đã gây ra mối đe dọa về chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán trên biển. Các hoạt động buôn lậu thường diễn ra ở khu vực nhạy cảm về chủ quyền (vùng biển chồng lấn với Malaysia, vùng nước lịch sử Việt Nam - Campuchia, vùng biển giáp ranh với Thái Lan…), có nguy cơ tạo cớ cho lực lượng chấp pháp các nước có vùng biển tiếp giáp lợi dụng can thiệp để gây mất ổn định khu vực với nhiều mục đích.
Thứ tư, ảnh hưởng đến môi trường biển và xã hội. Sử dụng tàu cá (không phải tàu chuyên dụng) vận chuyển dầu có nhiều nguy cơ gây ô nhiễm môi trường biển. Quá trình vận chuyển, tàu cá không đảm bảo tiêu chuẩn an toàn, dễ gây ra sự cố tràn dầu, làm ô nhiễm nghiêm trọng môi trường biển. Bên cạnh đó, có tác động tiêu cực đến ngư dân. Một số ngư dân bị lôi kéo tham gia vào các hoạt động buôn lậu dầu, làm giảm sự tập trung vào nghề đánh bắt hải sản truyền thống, ảnh hưởng đến đời sống của số đông ngư dân vùng ven biển Tây Nam.
Giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh với tội phạm buôn lậu dầu bằng phương thức sử dụng tàu cá cải hoán trên vùng biển Tây Nam
Thời gian qua, công tác phòng, chống tội phạm buôn lậu sử dụng tàu cá cải hoán để vận chuyển trái phép xăng, dầu của Cảnh sát biển Việt Nam đã đạt nhiều kết quả đáng khích lệ. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, hoạt động phòng ngừa, đấu tranh với loại tội phạm này còn bộc lộ một số tồn tại nhất định. Đó là: công tác đấu tranh, xử lý hình sự các vụ việc còn hạn chế, chưa có tính răn đe; việc xử lý tận gốc các đường dây, tổ chức, đối tượng buôn lậu dầu D.O chưa triệt để; quan hệ phối hợp với các lực lượng chức năng liên quan trong phòng ngừa, đấu tranh và xử lý các vụ việc buôn lậu, vận chuyển trái phép dầu D.O chưa được thường xuyên, liên tục; công tác quản lý, giám sát tàu khai thác hải sản của lực lượng chức năng địa phương chưa thực sự hiệu quả,…Do đó, tình hình tội phạm buôn lậu bằng phương thức sử dụng tàu cá cải hoán trên vùng biển Tây Nam vẫn còn diễn biến phức tạp.
Để nâng cao hiệu quả đấu tranh với phương thức sử dụng tàu cá cải hoán vận chuyển dầu trên vùng biển Tây Nam của đối tượng buôn lậu, thời gian tới, Cảnh sát biển Việt Nam cần tiến hành đồng bộ một số nhóm giải pháp trọng tâm sau:
Một là, nâng cao hiệu quả công tác nắm tình hình, thu thập thông tin, dự báo, đánh giá về các đường dây, đối tượng có hoạt động buôn lậu, vận chuyển trái phép dầu trên biển; xác định tàu cá cải hoán là mục tiêu trọng điểm. Theo đó, cần tăng cường trinh sát từ xa, sử dụng thiết bị quan sát tiên tiến, hiện đại (radar bờ, AIS, VMS, ống nhóm hồng ngoại quan sát đêm…) để giám sát, nhận diện các tàu cá có dấu hiệu nghi vấn cải hoán, hoạt động bất thường. Phối hợp chặt chẽ với ngư dân, chủ cảng cá, chính quyền địa phương và các lực lượng chức năng khác (Bộ đội Biên phòng, Hải quan, Công an…) để thu thập thông tin nguồn, cập nhật dữ liệu về tuyến, luồng, thời gian, phương thức vận chuyển dầu của đối tượng. Xây dựng cơ sở dữ liệu chuyên đề phục vụ công tác dự báo, cảnh báo sớm theo hướng chuyên sâu và có hệ thống.
Hai là, tổ chức công tác tuần tra, kiểm tra, kiểm soát có trọng điểm và theo chiều sâu. Tiếp tục triển khai lực lượng tuần tra thường xuyên tại các khu vực trọng điểm, kết hợp các hình thức kiểm tra công khai và mật phục bắt giữ phương tiện, đối tượng có dấu hiệu vận chuyển dầu trái phép. Tăng cường kiểm tra, kiểm soát đột xuất các tàu cá hoạt động trên biển và tại các khu neo đậu, các cảng cá.
Ba là, phối hợp quản lý chặt chẽ hoạt động cải hoán tàu cá và phương tiện dân sự trên biển. Phối hợp với ngành thủy sản và địa phương để nắm thông tin về hoạt động đăng ký, đăng kiểm và cải hoán phương tiện. Tiến tới xây dựng hệ thống dữ liệu quản lý, theo dõi các tàu cá đã bị bắt giữ, xử lý hoặc hoạt động bất thường. Qua đó, chủ động nắm diễn biến tình hình, làm cơ sở triển khai các biện pháp công tác phù hợp.
Bốn là, đẩy mạnh hợp tác, chia sẻ thông tin và phối hợp liên ngành với các lực lượng chức năng. Trên cơ sở quy chế, kế hoạch phối hợp đã ký kết, tiến hành thiết lập cơ chế phối hợp nhanh giữa Cảnh sát biển với các lực lượng chức năng có liên quan. Tổ chức giao ban định kỳ để trao đổi thông tin, nâng cao khả năng phối hợp đấu tranh, bắt giữ và xử lý tận gốc đối tượng, phương tiện có hành vi buôn lậu, vận chuyển dầu trên biển.
Năm là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, vận động ngư dân và quần chúng nhân dân Qua đó, nâng cao ý thức chấp hành nghiêm pháp luật của ngư dân, không bao che, tiếp tay cho đối tượng buôn lậu, vận chuyển dầu trái phép trên biển. Tổ chức tuyên truyền sâu rộng về hậu quả và chế tài xử phạt đối với hành vi tiếp tay cho buôn lậu, vận chuyển trái phép xăng, dầu trên biển; để ngư dân nhận diện đối tượng, tố giác với lực lượng chức năng về hành vi vi phạm của đối tượng, phương tiện có liên quan. Coi trọng việc xây dựng mô hình mạng lưới “ngư dân tự quản”, “tổ tàu thuyền an toàn”.
Sáu là, nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn cho lực lượng thực thi pháp luật trên biển, nhất là cán bộ, chiến sĩ trực tiếp tham gia phòng ngừa, đấu tranh với loại tội phạm này Cùng với công tác tập huấn các biện pháp công tác Cảnh sát biển (trọng tâm là biện pháp nghiệp vụ), cần thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn, huấn luyện chuyên sâu về thu thập thông tin, xác minh, điều tra, xử lý tàu cải hoán vận chuyển xăng, dầu trên biển. Trang bị thêm phương tiện, thiết bị chuyên dụng phục vụ kiểm tra, đấu tranh, bắt giữ và xử lý phương tiện vi phạm.
Đấu tranh với hoạt động sử dụng tàu cá cải hoán để vận chuyển dầu lậu trên vùng biển Tây Nam là một nhiệm vụ khó khăn, lâu dài, đòi hỏi sự quyết tâm chính trị cao và sự phối hợp liên ngành, đồng bộ giữa Cảnh sát biển Việt Nam và các lực lượng chức năng, chính quyền các địa phương. Việc triển khai hiệu quả các giải pháp nêu trên không chỉ góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi pháp luật trên biển mà còn là yếu tố quan trọng đảm bảo an ninh, chủ quyền quốc gia, phát triển kinh tế biển và bảo vệ môi trường sinh thái biển.
Trung tá TẠ ĐĂNG CHIẾN
Phó Trưởng phòng, Phòng PCTPVP/ Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 2