Phối hợp các lực lượng trong phòng, chống khai thác thủy sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định

07/12/2025 02:02:00 PM

(Canhsatbien.vn) - 

Chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU) là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, mà trực tiếp là các cấp, các ngành, các lực lượng chức năng trong cả nước. Để công tác này đạt hiệu quả, góp phần gỡ bỏ “thẻ vàng” của Ủy ban châu Âu (EC) đối với ngành thủy sản Việt Nam, cần có sự phối hợp hiệp đồng chặt chẽ và hiệu quả của các lực lượng liên quan, trong đó Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam là một trong những lực lượng giữ vai trò nòng cốt.

Các lực lượng tuyên truyền kiến thức pháp luật về chống khai thác IUU cho ngư dân tại cảng. Ảnh: ĐỨC HẠNH

Những năm qua, trên cơ sở quán triệt, tổ chức thực hiện quyết liệt, đồng bộ các chỉ thị, nghị quyết, văn bản hướng dẫn, chỉ đạo của Ban Bí thư, Thủ tướng Chính phủ, Ban Chỉ đạo Quốc gia, Ban Chỉ đạo Bộ Quốc phòng về chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU), Cảnh sát biển Việt Nam đã tích cực tham mưu cho Chính phủ, Bộ Quốc phòng và các bộ, ngành liên quan xây dựng, hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật, cơ chế, chính sách quản lý tàu cá; xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về quản lý, đăng ký tàu cá, giấy phép khai thác hải sản theo khu vực biển; xây dựng, vận hành trung tâm giám sát tàu cá; quy định kích thước tàu, thuyền hoạt động trên các vùng biển; lắp đặt thiết bị giám sát hành trình, định vị GPS, thông tin liên lạc ICOM; quy định khai báo trước, trong và sau khi ra khơi… Từ đó tạo khuôn khổ, hành lang pháp lý để các lực lượng chức năng kiểm tra, giám sát hoạt động của tàu cá, duy trì trật tự, an toàn trên các vùng biển Việt Nam.

Từ tháng 10/2020 đến nay, Bộ Quốc phòng giao cho Cảnh sát biển Việt Nam chủ trì, phối hợp các đơn vị sử dụng lực lượng, phương tiện thực hiện nhiệm vụ tuần tra, kiểm tra, kiểm soát, phát hiện, tuyên truyền, ngăn chặn, đấu tranh, xử lý nghiêm tàu cá Việt Nam vi phạm vùng biển nước ngoài, khai thác hải sản trái phép ở các vùng biển giáp ranh Việt Nam - Malaysia, Việt Nam - Thái Lan, với tổng chiều dài toàn tuyến khoảng 280 hải lý (gần 520 km), đường Ao - K và vùng biển Việt Nam - Campuchia. Đây là những vùng biển rộng lớn, là nơi có vị trí chiến lược quan trọng cả về kinh tế, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Với số lượng hoạt động của các tàu đánh bắt cá nhiều, tấp nập (có thời điểm đông nhất lên đến 6.000 - 7.000 tàu cá hoạt động), trong khi nguồn lợi thủy sản ngày một suy giảm, sản lượng khai thác có nhiều thời điểm thấp, giá trị thu được từ những chuyến đi biển của ngư dân chưa tương xứng với mức đầu tư. Quá trình hoạt động trên biển, tuy đã được tuyên truyền pháp luật, cảnh báo, song vẫn còn nhiều tàu cá của Việt Nam bằng nhiều phương thức, thủ đoạn tinh vi khác nhau, đã cố tình vượt sang vùng biển nước ngoài khai thác thủy sản trái phép, bị lực lượng chức năng các nước có vùng biển giáp ranh kiểm tra, bắt giữ, đưa về bờ xử lý, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn trên biển. Đây chính là một trong những nguyên nhân chưa gỡ được "thẻ vàng" của EC.

Quán triệt, thực hiện nghiêm nghị quyết, chỉ thị, chỉ đạo của Ban Bí thư, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Quốc phòng, Ban Chỉ đạo Bộ Quốc phòng về IUU, thời gian vừa qua, Cảnh sát biển Việt Nam đã làm tốt công tác phối hợp với lực lượng Bộ đội Biên phòng, Hải quân, nhất là phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương các tỉnh thành ven biển, đặc biệt là các tỉnh thành ven biển Tây Nam, đồng thời trực tiếp duy trì, điều hành hoạt động của Sở Chỉ huy liên hợp (được thành lập theo Quyết định số 240/QĐ-BTL ngày 9/1/2024 của Tư lệnh Cảnh sát biển Việt Nam gồm 3 lực lượng: Cảnh sát biển, Hải quân, Bộ đội Biên phòng, đặt tại Sở Chỉ huy Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 4).

Cảnh sát biển Việt Nam đã chỉ đạo, triển khai thực hiện đồng bộ, quyết liệt, hiệu quả 6 nội dung, giải pháp trọng tâm tại Sở Chỉ huy liên hợp, gồm: (1) Duy trì nghiêm hệ thống trực tại Sở Chỉ huy liên hợp; quản lý và phân công duy trì hiệu quả 5 tài khoản giám sát hoạt động tàu cá theo các hướng trên biển (theo dõi khu vực giáp ranh Việt Nam - Thái Lan - Malaysia, Việt Nam - Indonesia, đường Ao - K và vùng nước lịch sử Việt Nam - Campuchia); (2) Phối hợp hiệp đồng, trao đổi thông tin giữa Sở Chỉ huy liên hợp với Sở Chỉ huy phía trước (Cảnh sát biển, Hải quân), các tàu trên thực địa, Sở Chỉ huy các lực lượng và cơ quan chức năng địa phương... kịp thời nắm tình hình, báo cáo và xử lý nhanh các tình huống tàu cá Việt Nam vi phạm khai thác IUU; (3) Trên cơ sở nhiệm vụ, các hướng thường xuyên kiểm tra rà soát, đăng ký số lượng tàu cá hoạt động trong khu vực, tàu cá mất tín hiệu, tàu cá vượt ranh; đồng thời thông báo cho biên đội tàu trên thực địa để ngăn chặn vi phạm; (4) Khi phát hiện tàu cá mất tín hiệu VMS, đã kịp thời xác định vị trí, thời gian mất tín hiệu, thông tin chủ tàu, lịch sử hành trình và kêu gọi chủ tàu, thuyền trưởng bật kết nối thiết bị giám sát hành trình, thông báo cho biên đội trên biển, đăng ký thông tin vào “Sổ đăng ký theo dõi tàu cá mất kết nối”; tiếp tục theo dõi trên hệ thống và tuyên truyền đến chủ tàu cá cho đến khi tàu cá bật lại thiết bị giám sát hành trình; (5) Trường hợp tàu cá mất kết nối VMS trên 10 ngày, Sở Chỉ huy liên hợp sẽ tổng hợp công văn gửi Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng và Chi cục Thủy sản các tỉnh liên quan đề nghị xác minh thông tin, kết quả xử lý và phản hồi kết quả về Sở chỉ huy liên hợp; (6) Tích cực đẩy mạnh hoạt động đối ngoại quốc phòng, hợp tác quốc tế với các lực lượng thực thi pháp luật trên biển, đặc biệt với các nước có vùng biển tiếp giáp, liền kề thông qua đường dây nóng, các văn bản thoả thuận, ghi nhớ, thường xuyên trao đổi thông tin tình hình, hoạt động của tàu cá hai Bên, tàu cá Việt Nam bị bắt giữ, đề nghị phía Bạn cung cấp thông tin tàu cá bị bắt giữ để cơ quan pháp luật Việt Nam xử lý các đối tượng liên quan (chủ tàu, người quản lý tàu), đối xử nhân đạo với ngư dân bị bắt giữ, bàn giao tàu cá, ngư dân cho lực lượng chức năng Việt Nam để xử lý theo pháp luật Việt Nam, kết quả xử lý sẽ thông báo cho phía Bạn, để phía Bạn thấy quyết tâm của Việt Nam trong cương quyết xử lý hành vi phạm khai thác IUU.

Thực hiện nhiệm vụ được giao, Ban Chỉ đạo Cảnh sát biển Việt Nam về IUU đã chỉ đạo các đơn vị tích cực, chủ động phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền, các cơ quan chức năng địa phương, các lực lượng hiệp đồng triển khai đồng bộ các giải pháp, biện pháp cả về hành chính, tuyên truyền, vận động, nghiệp vụ pháp luật để ngăn chặn các vi phạm khai thác IUU. Đáng chú ý, các đơn vị tổ chức ký quy chế, kế hoạch phối hợp thực hiện nhiệm vụ phòng, chống IUU với Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố ven biển và các lực lượng (Hải quân, Bộ đội Biên phòng) đóng quân trên địa bàn. Thường xuyên phối hợp chặt chẽ với các lực lượng, cơ quan chức năng các địa phương xác minh, điều tra, xử lý các vi phạm của chủ tàu, thuyền viên; tham mưu với cấp có thẩm quyền xử lý các hành vi vi phạm nghiêm trọng theo Nghị định 37, 38/2024/NĐCP, Nghị quyết số 04/2024/NQ-HĐTP ngày 12/6/2024 của Hội đồng Thẩm phán tối cao; tổ chức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cấp cơ sở cho cán bộ, nhân dân, ngư dân, giáo viên, học sinh; tổ chức các đợt tuần tra liên ngành trên các tuyến, vùng biển trọng điểm đã xác định…

Thông qua công tác phối hợp, hiệu quả phòng, chống khai thác IUU đã có nhiều chuyển biến tích cực, nhất là sự vào cuộc của cấp ủy, chính quyền địa phương và các lực lượng chức năng đứng chân trên địa bàn, để tiến hành khảo sát địa bàn, tình hình ngư dân, tổ chức xây dựng và ban hành kế hoạch tuyên truyền, trong đó đã chú trọng vào những nơi ven biển, hải đảo, những nơi tập trung đông ngư dân, khu neo đậu của tàu thuyền để tổ chức tuyên truyền. Nội dung tuyên truyền luôn được đổi mới và gắn với đặc điểm tình hình của từng địa phương, nhất là tình hình hoạt động của tàu cá trên địa bàn, tình hình chấp hành các quy định pháp luật của ngư dân tại địa bàn đó, phổ biến những điều ngư dân cần biết, cần tránh khi đánh bắt trên biển để không vi phạm các quy định của pháp luật. Từ đó ý thức chấp hành pháp luật của ngư dân khi hoạt động trên biển tốt hơn, tình trạng tàu cá Việt Nam vi phạm vùng biển nước ngoài khai thác thủy sản trái phép đã giảm mạnh; “thế trận lòng dân” ở trên biển được xây dựng vững chắc hơn, góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn trên vùng biển Tây Nam của Tổ quốc.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác phối hợp lực lượng trong thực hiện nhiệm vụ phòng, chống IUU giữa Cảnh sát biển Việt Nam với các cơ quan, đơn vị, địa phương có liên quan vẫn còn bộc lộ một số tồn tại, hạn chế, như: (1) Công tác giám sát, xác minh, xử lý đối với các tàu cá mất kết nối VMS dài ngày trên biển kết quả đạt được còn thấp; (2) Việc chia sẻ thông tin, dữ liệu xuất nhập bến của tàu cá chưa thường xuyên, chủ yếu mới chỉ dừng lại khi có sự vụ; (3) Công tác tuyên truyền, yêu cầu ký cam kết không vi phạm về IUU đối với một số chủ tàu diện “có nguy cơ cao” đạt kết quả thấp, cá biệt có chủ tàu cá vừa ký cam kết nhưng ngay sau đó đã có hành vi vi phạm rất nghiêm trọng; (4) Trong quản lý, giám sát, phát hiện, xử lý tàu cá diện “3 không” chưa tương xứng với tình hình, thực trạng vi phạm; (5) Thời gian xác minh đối với một số vụ tàu cá Việt Nam còn chậm, ảnh hưởng đến công tác báo cáo, đề xuất cấp trên chỉ đạo xử lý.

Thẳng thắn đánh giá, có nhiều nguyên nhân dẫn đến những tồn tại, hạn chế nêu trên, cả nguyên nhân chủ quan và khách quan, song, chủ yếu vẫn là do: Một số quy định của pháp luật về thủy sản còn bất cập nên các đối tượng lợi dụng để thực hiện hành vi vi phạm; vùng biển rộng, khu vực gần bờ có nhiều cửa sông, vũng, vịnh trong khi lực lượng của các đơn vị Cảnh sát biển Việt Nam còn mỏng, cùng lúc thực hiện nhiều nhiệm vụ; quan điểm xử lý vi phạm của mỗi địa phương khác nhau, có địa phương rất chủ động trong phối hợp, điều tra, xét xử nghiêm minh các đối tượng vi phạm, nhưng cũng có địa phương thời gian điều tra kéo dài nên tính răn đe, phòng ngừa xã hội thấp; thông tin trao đổi khi phối hợp lực lượng chủ yếu mới dừng lại ở nắm tình hình, vụ việc, chưa tập trung xác minh đến cùng các hành vi có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng về IUU để xử lý theo quy định của pháp luật.

Trong thời gian tới, với nhận thức, trách nhiệm của ngư dân từng bước được nâng cao, cùng sự vào cuộc quyết liệt, đồng bộ của các cấp, các ngành, dự báo tình trạng tàu cá Việt Nam vi phạm IUU sẽ tiếp tục giảm, tuy nhiên vẫn chưa bền vững. Nếu các lực lượng chức năng không quản lý, giám sát, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh, xử lý thật nghiêm đối với các đối tượng cố tình vi phạm thì tình hình này có thể diễn biến phức tạp trở lại. Chính vì vậy, để nâng cao hiệu quả công tác phối hợp lực lượng thực hiện nhiệm vụ phòng, chống khai thác IUU trong thời gian tới, Cảnh sát biển Việt Nam cần tiếp tục triển khai đồng bộ, quyết liệt, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp, tập trung vào một số nội dung chính sau:

Một là, đẩy mạnh quán triệt, giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, chiến sĩ về vị trí, vai trò của công tác phối hợp đấu tranh phòng, chống khai thác IUU. Đây là vấn đề quan trọng, quyết định tới chất lượng, hiệu quả của hoạt động phối hợp, nhất là trong điều kiện hoạt động phòng, chống IUU là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, của nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều lực lượng, trong đó địa phương ven biển, ngành ngư nghiệp giữ vị trí, vai trò chủ đạo, có yếu tố quyết định. Các cơ quan, đơn vị trong Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam phải tiếp tục quán triệt, thực hiện tốt các chỉ thị, nghị quyết, chính sách, pháp luật về thủy sản, chống khai thác IUU; nâng cao trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo, phối hợp, hiệp đồng tuyên truyền, vận động, tuần tra, giám sát, kiểm soát, ngăn chặn, xử lý tàu cá Việt Nam có hành vi vi phạm.

Hai là, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất, toàn diện công tác phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị với các địa phương, lực lượng liên quan trong đấu tranh phòng, chống IUU. Đây vừa là giải pháp, vừa là nguyên tắc bảo đảm cho công tác phối hợp lực lượng trong thực hiện nhiệm vụ phòng, chống IUU được tiến hành đúng hướng, đạt được mục đích, yêu cầu đề ra, nhất là đối với các nội dung, vụ việc khó, liên quan đến nhiều địa phương, đơn vị. Trên cơ sở đó, xác định rõ nội dung, phương pháp, thời gian phối hợp bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật; phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các bên tham gia phối hợp, tạo sự thống nhất về ý chí và hành động, tránh phô trương, hình thức. Đồng thời, coi trọng công tác sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm định kỳ hoặc theo vụ việc để đánh giá chính xác ưu điểm, tồn tại, nguyên nhân và đề ra nội dung, giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phối hợp trong từng giai đoạn, lĩnh vực, vụ việc hoặc theo từng tuyến, vùng biển cụ thể.

Ba là, tiếp tục phối hợp với địa phương, các lực lượng có liên quan triển khai hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhân dân, nhất là ngư dân trực tiếp hoạt động trên biển. Nội dung, hình thức tuyên truyền cần phong phú, đa dạng, bảo đảm cụ thể, dễ nhớ, dễ hiểu, dễ thực hiện; chú trọng đổi mới mô hình tuyên truyền pháp luật, nhất là đối với các tàu cá “có nguy cơ cao”; kết hợp chặt chẽ giữa tuyên truyền pháp luật với nâng cao hiệu quả công tác quản lý, giám sát, phát hiện, xử lý nghiêm các đối tượng cố tình vi phạm; tăng cường tuyên truyền về hậu quả pháp lý đối với một số đối tượng vi phạm đã bị tòa án đưa ra xét xử để tăng tính răn đe, phòng ngừa chung.

Bốn là, nâng cao hiệu quả phối hợp lực lượng trong quản lý, giám sát đội tàu cá thông qua việc quản lý, giám sát hệ thống VMS. Đề xuất phối hợp liên ngành định kỳ hoặc đột xuất kiểm tra các tàu cá mất kết nối ở trong bờ, kịp thời phát hiện tàu cá vi phạm, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật, kiên quyết không để đối tượng lợi dụng việc mất kết nối ở trong bờ để ra biển hoạt động trái phép. Đối với các tàu cá mất kết nối dài ngày trên biển, chủ động phối hợp với Sở Chỉ huy liên hợp thông báo cho các địa phương, lực lượng có liên quan xác minh, kết luận và xử lý triệt để, đúng quy định của pháp luật đối với các trường hợp vi phạm, đặc biệt là các trường hợp mất kết nối trên 10 ngày ở trên biển.

Năm là, tăng cường phối hợp tổ chức tuần tra, kiểm tra, kiểm soát liên ngành ở các tuyến, vùng biển trọng điểm và trong công tác xác minh, điều tra, xử lý các vụ vi phạm nghiêm trọng về IUU. Tiếp tục duy trì lực lượng, phương tiện tuần tra, kiểm soát chống khai thác IUU trên các vùng biển; xác định vùng biển trọng điểm mà ngư dân thường vi phạm (đường giáp ranh Việt Nam - Thái Lan - Malaysia - Indonesia, đường Ao - K, vùng nước lịch sử Việt Nam - Campuchia). Tổ chức tuần tra liên ngành chặt chẽ, đúng thời gian, kế hoạch, bảo đảm an toàn, tập trung vào các tuyến, khu vực biển trọng điểm về IUU; quá trình thực hiện chú trọng nội dung trao đổi kinh nghiệm trong công tác quản lý, giám sát, phát hiện, xử lý tàu cá IUU. Tiếp tục chỉ đạo các cơ quan, đơn vị phối hợp chặt chẽ với lực lượng Công an, Viện Kiểm sát nhân dân các địa phương trong việc điều tra, đề nghị truy tố, xét xử đối với các vụ việc vi phạm nghiêm trọng về IUU đã được Cảnh sát biển Việt Nam bàn giao cho địa phương trong thời gian qua. Kịp thời thống nhất báo cáo cấp có thẩm quyền lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn giải quyết những nội dung còn vướng mắc, bất cập để xử lý nghiêm các đối tượng đã thực hiện hành vi vi phạm, bảo đảm tính răn đe, nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa xã hội.

Sáu là, tiếp tục đẩy mạnh hợp tác quốc tế, đối ngoại quốc phòng về chống khai thác IUU. Tăng cường các hoạt động ngoại giao, đàm phán, gặp gỡ thông qua các diễn đàn, sáng kiến hợp tác trong khu vực và quốc tế, thúc đẩy việc phân định các vùng biển chồng lấn, giáp ranh với các nước; thường xuyên trao đổi thông tin tàu cá Việt Nam bị nước ngoài bắt giữ, thể hiện quyết tâm chính trị của Việt Nam đối với việc chống khai thác IUU, tổ chức tuần tra giữa Cảnh sát biển Việt Nam với lực lượng thực thi pháp luật các nước có vùng biển tiếp giáp, liền kề, trọng tâm là Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Campuchia…

Với quyết tâm chính trị, nỗ lực cao độ của Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam trong triển khai các đợt cao điểm chống khai thác IUU, đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Ý thức chấp hành pháp luật của tàu cá được nâng cao, không còn tình trạng tàu cá, ngư dân chống đối hoặc không chấp hành hiệu lệnh tuần tra, kiểm soát. Số lượng tàu cá Việt Nam cố tình vi phạm khai thác IUU đã giảm mạnh. Công tác kiểm soát, giám sát tàu cá, truy xuất nguồn gốc, chứng nhận khai thác hải sản đã được thực hiện nghiêm với sự tham gia tích cực của lực lượng, cơ quan chức năng. Việc ban hành chế tài và phối hợp xử lý các hành vi khai thác IUU được tiến hành chặt chẽ, đúng quy trình, quy định, có tác dụng răn đe với các đối tượng có ý định vi phạm. Đây là cơ sở vững chắc để thời gian tới, Cảnh sát biển Việt Nam tiếp tục phát huy và làm tốt hơn nữa chức năng, nhiệm vụ của mình, phối hợp hiệp đồng với các lực lượng liên quan, chung tay cùng cả nước quyết tâm sớm gỡ “thẻ vàng” của Ủy ban châu Âu đối với ngành thủy sản Việt Nam, góp phần giữ vững ổn định an ninh, trật tự, an toàn trên các vùng biển, thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước trong kỷ nguyên mới.

Thượng tá LÂM SƠN TÙNG

Trưởng Phòng Tác chiến/Bộ Tham mưu Cảnh sát biển Việt Nam

Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục gửi về banbientapcsb@gmail.com

Các tin liên quan