07/12/2025 01:42:00 PM
(Canhsatbien.vn) -
Thời gian qua, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo và nỗ lực của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương nhằm quyết tâm, quyết liệt chống khai thác IUU, sớm gỡ cảnh báo “thẻ vàng” đối với ngành thủy sản Việt Nam. Trong đó, công tác phòng, chống IUU của Cảnh sát biển Việt Nam luôn được Đảng ủy, Cảnh sát biển Việt Nam xác định đây là một trong những nhiệm vụ chính trị trọng tâm, quan trọng của Cảnh sát biển Việt Nam; thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo các đơn vị quán triệt nghiêm túc, đầy đủ các chỉ thị, nghị quyết của trên về nhiệm vụ chống khai thác IUU và yêu cầu các đơn vị triển khai đồng bộ, quyết liệt các biện pháp đấu tranh chống khai thác IUU.

Lực lượng Cảnh sát biển kiểm tra, tuyên truyền kiến thức pháp luật về chống khai thác IUU cho ngư dân. Ảnh: ĐỨC HẠNH
Kết quả từ 01/01/2023 đến 10/6/2025, Cảnh sát biển Việt Nam đã chủ trì, phối hợp bắt giữ 370 vụ/867 đối tượng vi phạm về IUU. Trong đó, xử phạt vi phạm hành chính (XPVPHC) 317 vụ/322 đối tượng vi phạm; tổng số tiền thu nộp ngân sách Nhà nước trên 7 tỷ đồng; bàn giao 18 vụ/234 đối tượng có hành vi vi phạm nghiêm trọng trong lĩnh vực thủy sản. Các hành vi vi phạm gồm: tháo thiết bị giám sát hành trình trên tàu cá mà không có sự giám sát của đơn vị cung cấp, lắp đặt thiết bị; không duy trì việc truyền thông tin từ thiết bị giám sát hành trình trên tàu cá về hệ thống giám sát tàu cá theo quy định, hoặc vô hiệu hóa thiết bị giám sát hành trình trên tàu cá, hoặc không có thiết bị giám sát hành trình trên tàu cá khi hoạt động đối với tàu cá; giấy phép khai thác thủy sản đã hết hạn khai thác thủy sản trong vùng biển Việt Nam; không đăng ký lại tàu cá theo quy định; khai thác hải sản ở vùng nước ngoài... Bàn giao 29 vụ/290 đối tượng có dấu hiệu về tội “Cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử” theo Điều 287 Bộ luật Hình sự cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an địa phương tiếp tục điều tra theo quy định; tang vật gồm: 30 thiết bị giám sát hành trình, gần 30 tấn thủy sản các loại...; khởi tối 3 vụ/15 đối tượng về tội mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép vật liệu nổ; tổ chức, môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép. Phối hợp với Bộ đội Biên phòng bắt giữ 3 vụ/6 đối tượng có hành vi tàng trữ thiết bị giám sát hành trình của tàu cá khác.
Trong bối cảnh nguồn lợi thủy sản suy giảm nghiêm trọng, tình trạng khai thác IUU đang trở thành vấn đề toàn cầu, đe dọa nghiêm trọng đến tính bền vững của tài nguyên biển, trật tự trên biển và an ninh khu vực. Ở Việt Nam, với đội tàu cá đông đảo, hoạt động khai thác diễn ra mạnh mẽ ở vùng biển trong nước, thậm chí cả vùng biển nước ngoài. Do đó, việc một bộ phận ngư dân Việt Nam vi phạm vùng biển các quốc gia khác, hoặc khai thác không đúng quy định, đã khiến Việt Nam bị Ủy ban châu Âu (EC) cảnh báo rút “thẻ vàng” vào tháng 10/2017 đối với ngành thủy sản. Đây không chỉ là vấn đề thương mại mà còn là bài toán pháp lý, pháp chế, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của toàn bộ hệ thống chính trị, đặc biệt là các lực lượng thực thi pháp luật trên biển.
Thực tế cho thấy, mặc dù Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong hoàn thiện khung pháp lý, tổ chức triển khai các kế hoạch hành động quốc gia và tăng cường kiểm soát tàu cá, nhưng tình trạng vi phạm IUU vẫn chưa được ngăn chặn triệt để. Một trong những nguyên nhân then chốt là hiệu quả của công tác thực thi pháp luật phòng, chống khai thác IUU vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế. Bài viết tập trung phân tích khái quát pháp luật Việt Nam về công tác phòng, chống khai thác IUU; đánh giá thực trạng thực thi; đồng thời đề xuất một số giải pháp thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật trong lĩnh vực này, góp phần bảo vệ tài nguyên biển, giữ vững an ninh - trật tự trên biển và sớm gỡ “thẻ vàng” của EC.
Thời gian qua, Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản về phòng, chống khai thác IUU, đặc biệt từ khi EC đưa ra cảnh báo “thẻ vàng” năm 2017. Trên cơ sở Luật Thủy sản năm 2017, đây là văn bản pháp lý cao nhất trong lĩnh vực thủy sản; Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cùng các bộ, ngành liên quan đã ban hành nhiều văn bản dưới luật để cụ thể hóa quy định về chống khai thác IUU, trong đó tập trung vào 4 nhóm nội dung chính:
Thứ nhất, về đăng ký, đăng kiểm, cấp phép tàu cá, Luật Thủy sản quy định rõ các điều kiện để tàu cá được hoạt động khai thác; bắt buộc đăng ký, kiểm tra định kỳ và chỉ được khai thác ở ngư trường phù hợp với giấy phép được cấp.
Thứ hai, về giám sát hành trình và quản lý hoạt động khai thác, pháp luật yêu cầu các tàu cá có chiều dài từ 15 mét trở lên phải lắp đặt thiết bị giám sát hành trình (VMS) và duy trì tín hiệu liên tục khi hoạt động trên biển. Đồng thời, quy định rõ trách nhiệm báo cáo khai thác, cập cảng và truy xuất nguồn gốc thủy sản.
Thứ ba, về xử lý vi phạm và chế tài, các nghị định như: Nghị định số 38/2024/ NĐ-CP ngày 5/4/2024 của Chính phủ quy định XPVPHC trong lĩnh vực thủy sản (thay thế Nghị định 42/2019/NĐ-CP) quy định cụ thể các hành vi vi phạm trong khai thác thủy sản và mức xử phạt tương ứng, bao gồm cả hành vi không duy trì tín hiệu VMS, khai thác sai vùng biển, vượt ranh sang vùng biển nước ngoài, mua bán hải sản từ nguồn khai thác IUU và khai thác thủy, hải sản trái phép và Nghị quyết số 04/2024/NQHĐTP ngày 12/6/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành về hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự về truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi liên quan đến khai thác, mua bán, vận chuyển trái phép thủy sản.
Thứ tư, về cơ chế phối hợp và trách nhiệm thi hành, hệ thống pháp luật xác định rõ vai trò của các cơ quan như Bộ Nông nghiệp và Môi trường (Cục Kiểm ngư và Thủy sản), Bộ Quốc phòng (Cảnh sát biển, Bộ đội Biên phòng), Bộ Công an, chính quyền địa phương ven biển và các tổ chức nghề cá trong việc kiểm tra, kiểm soát, xử lý vi phạm về phòng, chống khai thác IUU và tuyên truyền cho ngư dân. Bên cạnh đó, Chính phủ cũng đã ban hành và triển khai nhiều chương trình, kế hoạch hành động quốc gia về chống khai thác IUU, thể hiện quyết tâm chính trị trong việc chấn chỉnh toàn diện hoạt động khai thác và đáp ứng khuyến nghị của EC.
Trong những năm qua, công tác thực thi pháp luật nhằm phòng, chống khai thác IUU ở Việt Nam đã có chuyển biến rõ rệt về nhận thức và hành động, thể hiện qua việc triển khai đồng bộ các kế hoạch hành động quốc gia, tăng cường kiểm tra, kiểm soát tàu cá, xử lý vi phạm và hợp tác quốc tế. Kết quả nổi bật như sau:
Thứ nhất, các lực lượng chức năng trên biển như Cảnh sát biển, Bộ đội Biên phòng, Hải quân... đã phối hợp tổ chức nhiều đợt tuần tra, kiểm tra, xử lý vi phạm trong khai thác thủy sản. Việc kiểm soát tàu cá xuất bến, nhập bến tại cảng cá đã được tăng cường nhằm ngăn chặn tàu cá vi phạm vùng biển nước ngoài.
Thứ hai, hệ thống giám sát tàu cá từng bước phát huy hiệu quả trong theo dõi, cảnh báo và xử lý tàu cá vi phạm về IUU (Hiện nay, theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đối với tàu cá có chiều dài trên 15 mét theo quy định phải lắp VMS, đạt tỷ lệ là 100%).
Thứ ba, công tác kiểm tra, kiểm soát và xử lý vi phạm, tội phạm về IUU của các lực lượng được đẩy mạnh, nhiều hành vi vi phạm khai thác trái phép đã bị xử phạt với mức tiền lớn, có tính răn đe cao. Trong đó, một số địa phương như Bà Rịa - Vũng Tàu, Cà Mau, Kiên Giang, Bình Định… đã chủ động triển khai mô hình quản lý cộng đồng, vận động ngư dân cam kết không khai thác IUU.
Tuy nhiên, ngoài những kết quả đã đạt được như nêu ở trên, thì hiệu quả thực thi pháp luật phòng, chống khai thác IUU vẫn chưa đạt kỳ vọng. Những hạn chế nổi bật gồm: (i) tình trạng chủ tàu, thuyền trưởng tàu cá vẫn cố tình ngắt tín hiệu VMS để “lách luật”, vượt ranh sang vùng biển nước ngoài để khai thác thủy sản trái phép; (ii) tình trạng ngư dân Việt Nam bị nước ngoài bắt giữ, xử lý vẫn thường xuyên xảy ra, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hình ảnh quốc gia; (iii) tình trạng tàu cá vi phạm về “3 không” đối với những tàu này chủ yếu neo đậu tại các bãi cá tự phát không theo quy định hoặc khu vực cửa sông, cửa luồng; một số tàu cá hoạt động không về bờ, không về địa phương nên chưa được kiểm soát, giám sát chặt chẽ; (iv) tình trạng mua, bán tàu cá không sang tên, đổi chủ, cho thuê, cho mượn không có giấy tờ… gây khó khăn cho công tác điều tra, xác minh khi tàu cá vi phạm.
Nguyên nhân của những hạn chế nêu trên, do cả chủ quan và khách quan: do thiếu nhận thức pháp luật của một bộ phận ngư dân ta; hiệu quả khai thác thủy sản trong vùng biển Việt Nam không cao và áp lực về kinh tế, do nguồn lợi thủy sản trên các vùng biển Việt Nam ngày càng khan hiếm, vì lợi ích kinh tế trước mắt, một bộ phận ngư dân dùng nhiều thủ đoạn tinh vi hơn (tháo, gửi và can thiệp vô hiệu hóa thiết bị VMS ở xa khu vực các tàu lực lượng chức năng trên thực địa, sau đó vượt ranh sang vùng biển nước ngoài khai thác, mua bán hải sản trái phép hay tàu cá vẫn nằm bờ gửi thiết bị VMS cho tàu cá khác đi biển nhằm trục lợi sự hỗ trợ của Nhà nước về khai thác hải sản) từ đó gây khó khăn cho các lực lượng tuần tra, kiểm soát trên thực địa. Bên cạnh đó, việc chuyển đổi ngành nghề còn chậm, hiệu quả chưa cao; nhiều trường hợp tàu cá khai thác không hiệu quả, nằm bờ vẫn chịu lãi suất ngân hàng, gây áp lực cho ngư dân, do đó vì sinh kế, ngư dân tìm mọi cách, kể cả vi phạm IUU để đưa tàu cá đi hoạt động.
Từ thực trạng nêu trên có thể thấy, mặc dù hệ thống pháp luật của Việt Nam hiện hành là tương đối đầy đủ, nhưng thực thi vẫn là khâu hạn chế trong phòng, chống khai thác IUU ở nước ta hiện nay nói chung, Cảnh sát biển Việt Nam nói riêng. Để nâng cao hiệu quả công tác này, Việt Nam cần nghiên cứu vận dụng những kinh nghiệm quốc tế để có bước cải cách mạnh mẽ trong tổ chức thi hành pháp luật trong lĩnh vực thủy sản. Tình trạng khai thác IUU không chỉ là vấn đề của riêng Việt Nam, mà là thách thức toàn cầu. Nhiều quốc gia có ngành thủy sản phát triển trong khu vực như Thái Lan, Philippines, Indonesia… đã từng đối mặt với cảnh báo “thẻ vàng” từ Liên minh châu Âu (EU), nhưng sau một thời gian nỗ lực cải cách, họ đã gỡ bỏ thành công cảnh báo “thẻ vàng” của EC. Kinh nghiệm của các quốc gia này cho thấy: Để nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về IUU, cần có chính sách quyết liệt, hành động thống nhất từ Trung ương đến địa phương, và đặc biệt là cơ chế kiểm soát chặt chẽ hoạt động khai thác.
Đối với Thái Lan: Năm 2015, Thái Lan bị EU cảnh báo “thẻ vàng” do tình trạng khai thác IUU lan rộng và thiếu kiểm soát. Để khắc phục, Thái Lan đã ban hành Luật Nghề cá mới, thiết lập Trung tâm chỉ huy chống IUU (CCCIF) đặt trực thuộc Chính phủ, có quyền điều phối liên ngành từ Hải quân, Cảnh sát, Kiểm ngư... Ngoài ra, Thái Lan cũng áp dụng hệ thống công nghệ cao như e-logbook (nhật ký điện tử), theo dõi AIS/ VMS song song, kiểm soát chặt tàu cá ra vào cảng và truy xuất nguồn gốc theo thời gian thực. Năm 2019, EU đã chính thức rút lại “thẻ vàng” đối với Thái Lan, ghi nhận những cải cách mạnh mẽ trong lĩnh vực này.
Đối với Philippines: Philippines là quốc gia có đội tàu khai thác hải sản ven bờ lớn và địa hình biển phức tạp. Sau khi bị “thẻ vàng” năm 2014, nước này đã tăng cường thực thi pháp luật bằng cách thành lập Lực lượng đặc nhiệm quốc gia chống IUU, ban hành hướng dẫn truy xuất nguồn gốc bắt buộc, áp dụng các trạm kiểm soát cảng cá theo cơ chế một cửa, có sự phối hợp giữa cơ quan Thủy sản, Hải quan và lực lượng Bảo vệ bờ biển. Một điểm đáng chú ý trong kinh nghiệm từ Philippines là việc huy động vai trò cộng đồng, đặc biệt là tổ chức ngư dân tự quản, để hỗ trợ giám sát việc khai thác và tố giác hành vi IUU tại địa phương.
Đối với Indonesia: Indonesia là một trong những quốc gia cứng rắn nhất trong xử lý IUU. Chính phủ nước này đã tiến hành tịch thu và đánh chìm hàng trăm tàu cá nước ngoài vi phạm về khai thác thủy sản của nước họ, đồng thời tăng cường xử lý hình sự đối với chủ tàu, người môi giới. Luật pháp Indonesia trao quyền mạnh mẽ cho Bộ Thủy sản và lực lượng Hải quân trong kiểm tra, truy tố và xử lý tại chỗ. Ngoài ra, Indonesia phát triển cơ sở dữ liệu quốc gia về tàu cá đồng bộ với hệ thống VMS, từ đó tạo ra cơ chế kiểm soát toàn trình từ cấp phép - giám sát hành trình - cập cảng - tiêu thụ.
Từ các kinh nghiệm nêu trên, có thể rút ra một số bài học cho Việt Nam như sau: Một là, cần nghiên cứu thiết lập Cơ quan điều phối thống nhất về chống khai thác IUU với thẩm quyền mạnh tương tự như cơ quan CCCIF của Thái Lan (nên giao cho Cảnh sát biển Việt Nam, vì đây là lực lượng nòng cốt thực thi pháp luật trên biển. Ngoài ra, về trang bị, phương tiện, tàu thuyền, con người... chỉ có Cảnh sát biển Việt Nam đáp ứng được yêu cầu trước mắt và lâu dài trong công tác phòng, chống khai thác IUU). Hai là, tăng cường áp dụng công nghệ số trong theo dõi, kiểm tra và truy xuất nguồn gốc. Ba là, thực hiện kiểm tra nghiêm ngặt tại cảng cá, kết hợp cơ chế kiểm soát hành chính - kỹ thuật - pháp lý, đảm bảo việc tàu cá khi xuất bến khai thác thủy sản tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Bốn là, phát huy vai trò giám sát của cộng đồng ngư dân, kết hợp công tác tuyên truyền và xử lý nghiêm vi phạm.
Thời gian tới, để nhiệm vụ thực thi pháp luật về phòng, chống khai thác IUU hiệu quả hơn nữa, đòi hỏi các lực lượng chức năng, đặc biệt là Cảnh sát biển Việt Nam, cần tiếp tục khẳng định vai trò nòng cốt, chủ động nắm chắc tình hình, phối hợp hiệu quả với các lực lượng liên quan và chính quyền địa phương, kiên quyết đấu tranh với các hành vi khai thác trái phép, từng bước xây dựng vùng biển không có IUU.
Để “Nâng cao hiệu quả, hiệu lực trong công tác thực thi pháp luật phòng, chống khai thác IUU”, tác giả có một số kiến nghị, đề xuất như sau:
Thứ nhất, tiếp tục tăng cường, đồng bộ hơn nữa sự vào cuộc của các bộ, ban, ngành chức năng và chính quyền địa phương; kết hợp đồng thời giữa tuyên truyền, vận động với đấu tranh ngăn chặn. Phát huy vai trò của cấp ủy, chính quyền địa phương cấp cơ sở làm nòng cốt từ công tác tuyên truyền đến việc quản lý đội tàu; thường xuyên phối hợp với lực lượng chức năng theo dõi, giám sát, quản lý chặt chẽ tàu cá, bảo đảm “đi từng nhà, rà từng đối tượng” mới nắm chắc được số lượng, phân loại tàu cá để quản lý, vị trí tàu cá hoạt động để cung cấp cho lực lượng chức năng theo dõi, giám sát trên biển.
Thứ hai, đề nghị chính quyền địa phương tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan tư pháp (Công an, Viện kiểm sát, Tòa án) và các ngành chức năng phải xử lý nghiêm minh đối với các vụ việc vi phạm được Lực lượng Cảnh sát biển bắt giữ, bàn giao mới đảm bảo tính răn đe. Tiếp tục duy trì trao đổi thông tin, phối hợp chặt chẽ, quyết liệt đấu tranh, điều tra, làm rõ các vụ việc tàu cá vi phạm khai thác IUU, các đối tượng, đường dây tháo, gửi, tàng trữ, vận chuyển thiết bị VMS, môi giới đưa tàu cá, ngư dân sang vùng biển nước ngoài hoạt động, chuộc tàu, ngư dân về Việt Nam. Việc đấu tranh ngăn chặn IUU không thể do riêng Lực lượng Cảnh sát biển đảm nhiệm mà cần có sự phối hợp đồng bộ với các lực lượng như Bộ đội Biên phòng (quản lý tuyến bờ), Kiểm ngư (thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường, quản lý hoạt động khai thác), Hải quân và Cơ quan điều tra Cảnh sát Công an các địa phương ven biển. Cần xây dựng cơ chế chia sẻ thông tin nhanh qua đường dây nóng, thiết lập trung tâm phối hợp chỉ huy liên ngành tại các vùng biển trọng điểm nhằm kịp thời xử lý các vụ việc phức tạp, không để tàu cá Việt Nam vượt ranh sang vùng biển nước ngoài khai thác thủy, hải sản trái phép.
Thứ ba, tiếp tục tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho ngư dân, đây là giải pháp gốc rễ và lâu dài. Lực lượng Cảnh sát biển cần phối hợp chặt chẽ với các địa phương ven biển tổ chức các buổi tuyên truyền trực tiếp tại các cảng cá, làng chài, khu neo đậu tàu cá. Tập trung tuyên truyền các quy định mới của Luật Thủy sản 2017, hướng dẫn ngư dân ghi nhật ký khai thác, lắp thiết bị giám sát hành trình và không sang vùng biển của nước ngoài khai thác thủy sản trái phép. Việc xây dựng lực lượng “ngư dân nòng cốt” làm hạt nhân tuyên truyền tại cộng đồng cũng là hướng đi cần được nhân rộng.
Thứ tư, kiên quyết xử lý vi phạm, tạo tính răn đe: Cần tăng cường công khai hóa các vụ việc vi phạm trên phương tiện truyền thông để nâng cao tính răn đe, giáo dục. Các trường hợp tổ chức, môi giới, hoặc cố tình đưa tàu đi khai thác trái phép ở vùng biển nước ngoài cần bị xử lý nghiêm minh, không có vùng cấm. Cảnh sát biển Việt Nam cần phối hợp chặt chẽ với Công an, Viện Kiểm sát, Tòa án nhân dân trong xử lý hành chính và hình sự để bảo đảm tính công khai, minh bạch và đúng pháp luật.
Thứ năm, trên thực địa yêu cầu tiếp tục duy trì lực lượng, phương tiện các tàu Cảnh sát biển thường xuyên tuần tra, kiểm soát trên các vùng biển giáp ranh, vùng chồng lấn, giám sát chặt chẽ tàu cá mất kết nối tín hiệu VMS, kiên quyết ngăn chặn, tiến tới chấm dứt hoàn toàn tình trạng tàu cá Việt Nam vi phạm vượt sang vùng biển nước ngoài khai thác hải sản trái phép. Những kiến nghị, đề xuất trên nếu được triển khai quyết liệt, đồng bộ sẽ góp phần quan trọng vào việc ngăn chặn tình trạng khai thác IUU, hỗ trợ Việt Nam sớm gỡ bỏ "thẻ vàng" của EC, đồng thời khẳng định vai trò nòng cốt của Cảnh sát biển Việt Nam trong bảo vệ chủ quyền, an ninh biển đảo và phát triển nghề cá bền vững trong thời gian tới.
Đại tá, ThS. NGUYỄN GIANG ĐÔNG
Trưởng phòng Hướng dẫn điều tra xử lý/Cục Nghiệp vụ và Pháp luật Cảnh sát biển Việt Nam