Vai trò của chính sách, pháp luật các quốc gia trong hoạt động khai thác, sử dụng Biển Đông

07/12/2025 03:04:00 PM

(Canhsatbien.vn) - 

Biển và đại dương có tầm quan trọng đặc biệt về kinh tế, chính trị, xã hội và là xu hướng phát triển chủ yếu đối với các nước trên thế giới. Thế kỉ XXI được coi là kỷ nguyên của “biển và đại dương”, “biển và kinh tế biển”,... Trước sự dịch chuyển địa chiến lược từ không gian đất liền ra không gian biển, trong thời gian gần đây, nhiều quốc gia đã tiến hành hoạch định chiến lược biển của mình. Đồng thời, để thích nghi, ứng phó với sự thay đổi lớn trên thế giới, bảo vệ lợi ích và chủ quyền quốc gia, các quốc gia đều có sự điều chỉnh chiến lược biển, đặt chiến lược biển vào vị trí trung tâm của chiến lược quốc gia.

Chính sách biển là tổng thể các quan điểm, chuẩn mực, sách lược, nội dung và phương pháp hành động của Nhà nước nhằm thực hiện thắng lợi chiến lược, đường lối của quốc gia về quản lý, khai thác, sử dụng biển đảo, phát triển kinh tế biển, đảm bảo quốc phòng - an ninh trên biển đảo, hợp tác quốc tế về biển, phân định biển, bảo vệ và gìn giữ môi trường biển. Luật biển là một trong những ngành độc lập trong hệ thống pháp luật quốc tế xuất hiện từ thời xưa và có vai trò quan trọng trong đời sống quan hệ quốc tế. Trong đó, nguyên tắc tự do biển cả là nguyên tắc cổ điển, được pháp điển hóa trở thành nguyên tắc cơ bản của Công ước liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 (UNCLOS 1982) và vẫn tồn tại với tư cách là một tập quán quốc tế.

Chính sách và pháp luật là những công cụ quan trọng để các quốc gia thực thi quản lý nhà nước về biển, đảo. Hiện nay, chính sách và pháp luật được sử dụng nhằm quản lý, khai thác Biển Đông thể hiện ở những nội dung chủ yếu như sau:

Thứ nhất, chính sách, pháp luật là công cụ để các quốc gia bảo vệ độc lập, chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia, sự toàn vẹn lãnh thổ và thực thi các mục tiêu quốc gia về sử dụng, khai thác Biển Đông.

Hệ thống chính sách, pháp luật về quản lý, thực thi và bảo vệ chủ quyền biển đảo là những cơ sở pháp lý và công cụ quản lý để các quốc gia trong khu vực Biển Đông bảo vệ độc lập, chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và sự toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia; đồng thời nhằm hiện thực hóa các mục tiêu quốc gia về khai thác, sử dụng Biển Đông, phục vụ công cuộc xây dựng, phát triển đất nước.

Hoa Kỳ: là nước công khai tuyên bố ủng hộ tự do hàng hải trên Biển Đông, giải quyết mọi tranh chấp trên Biển Đông bằng biện pháp hòa bình, đồng thời thường xuyên tiến hành nhiều cuộc tuần tra bảo vệ tự do hàng hải và tham gia tập trận với nhiều nước trong khu vực. Nhìn chung, chính sách và mục tiêu chiến lược của Hoa Kỳ đối với tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông được thể hiện qua lập trường 4 điểm: (i) Thúc giục giải pháp tăng cường “hòa bình, thịnh vượng và an ninh” trong khu vực; (ii) Không đồng tình với việc đe dọa hoặc sử dụng vũ lực để khẳng định yêu sách về chủ quyền của bất kỳ nước nào ở Biển Đông và coi đây là một vấn đề nghiêm trọng; (iii) Sẵn sàng giúp đỡ bằng giải pháp hòa bình đối với các yêu sách đó nếu được các bên yêu cầu; (iv) Có lợi ích chiến lược trong việc duy trì an toàn và tự do đối với các tuyến đường giao thông trên Biển Đông, xem đó là vấn đề cơ bản để không đồng tình bất kỳ yêu sách về chủ quyền biển của quốc gia nào không phù hợp với UNCLOS 1982.

Trung Quốc: khẳng định chủ quyền trên Biển Đông không chỉ có ý nghĩa về mặt quyền lợi kinh tế mà còn cả ý nghĩa về mặt chính trị, lịch sử đối với quốc gia này. Trung Quốc đã nhiều lần tuyên bố có chủ quyền lịch sử với một số khu vực ở Biển Đông, trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam,… Với vai trò là nước có sức mạnh nhất và có liên quan tới ba cuộc xung đột quân sự trong khu vực có tranh chấp lãnh thổ, chính sách của Trung Quốc đóng vai trò quan trọng trong định hình những diễn biến sắp tới của tranh chấp cũng như đối với tình hình an ninh khu vực. Trong tương lai gần, Bắc Kinh có khả năng sẽ áp dụng chính sách quyết đoán nhưng không đối đầu trong tranh chấp Biển Đông.

Các quốc gia ASEAN: Sự ổn định và phát triển của hầu hết các quốc gia ASEAN đang phụ thuộc chủ yếu vào tuyến đường hàng hải trên Biển Đông, tuy nhiên, nếu ASEAN không nhận thức đầy đủ, đoàn kết cùng đối phó với các thách thức, đe dọa từ phía Trung Quốc thì những thập kỷ ổn định và phát triển của ASEAN sẽ không còn được kéo dài. Các chuyên gia phân tích chính trị thế giới đều có chung nhận định: ASEAN đóng vai trò rất quan trọng trong việc giải quyết vấn đề Biển Đông, nhưng vai trò này chỉ có được khi có sự đoàn kết của các nước thành viên ASEAN trong thống nhất hành động trước thách thức từ phía Trung Quốc. Khi ASEAN đoàn kết đưa ra lập trường chung thì tiếng nói của tổ chức khu vực này sẽ có trọng lượng, được lắng nghe, được xem trọng. Ngược lại, nếu ASEAN bị li gián và bị phân hóa, thì tiếng nói của ASEAN sẽ bị suy yếu, bị nước lớn chi phối. Bởi, với khả năng huy động, triệu tập lực lượng dưới lá cờ chung ASEAN, đồng thời dựa vào sự đồng bộ tương đối về lợi ích chính trị, kinh tế và môi trường, ASEAN mới có thể xây dựng được sức mạnh tập thể và tranh thủ được sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế nhằm giành lại “thế cân bằng” trong giải quyết vấn đề căng thẳng trên Biển Đông.

Việt Nam: Vùng biển Việt Nam chiếm gần 1/3 diện tích Biển Đông, là “ban công” hướng ra biển Thái Bình Dương, có nhiều thuận lợi cho hoạt động giao thương và hội nhập quốc tế, nhưng cũng là vị trí xung yếu về mặt an ninh - quốc phòng; tạo cho Việt Nam một vị thế địa chính trị và địa kinh tế then chốt trong chiến lược phát triển, mở rộng ảnh hưởng trong chiến lược của các nước lớn trên thế giới. Từ thế đứng tự nhiên - lịch sử, cùng với vị thế của đất nước hiện nay trong khu vực và trên thế giới, Việt Nam đã có nhiều chủ trương, chính sách về biển, nhằm khai thác tối đa tiềm năng và lợi thế trên biển, vùng ven biển và hải đảo, bảo đảm quốc phòng - an ninh, bảo vệ môi trường, bảo vệ toàn vẹn chủ quyền quốc gia, góp phần phát triển kinh tế. Bằng việc phê chuẩn UNCLOS 1982, Việt Nam biểu thị sự quyết tâm cùng cộng đồng quốc tế xây dựng một trật tự công bằng, khuyến khích sự phát triển và hợp tác trên biển. Việt Nam cũng ủng hộ mọi nỗ lực thực hiện các biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp theo Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, từ thương lượng, hòa giải tới việc sử dụng các cơ chế pháp lý quốc tế.

Thứ hai, chính sách, pháp luật của các quốc gia về sử dụng, khai thác Biển Đông tác động đến việc duy trì và thực thi luật pháp và tập quán quốc tế.

Hiến chương Liên hợp quốc được xem là bản Hiến pháp mà hầu hết các quốc gia trên thế giới thông qua. Theo đó, các thành viên Liên hợp quốc nhất trí đồng thuận giải quyết các tranh chấp quốc tế của họ bằng biện pháp hòa bình, sao cho không tổn hại đến hòa bình, an ninh quốc tế và công lý; từ bỏ đe dọa bằng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế nhằm chống lại sự bất khả xâm phạm về lãnh thổ hay nền độc lập chính trị của bất kì quốc gia nào cũng như bằng cách khác trái với những mục đích của Liên hợp quốc; giúp đỡ đầy đủ cho Liên hợp quốc trong mọi hành động mà nó áp dụng theo đúng Hiến chương này và tránh giúp đỡ bất cứ quốc gia nào bị Liên hợp quốc áp dụng các hành động phòng ngừa hoặc cưỡng chế. Liên hợp quốc có trách nhiệm để các quốc gia không phải là thành viên Liên hợp quốc cũng hành động theo nguyên tắc này để duy trì hòa bình và an ninh thế giới; không được can thiệp vào những công việc thực chất thuộc thẩm quyền nội bộ của bất cứ quốc gia nào… (Điều 2).

Cùng với Hiến chương Liên hợp quốc, luật pháp quốc tế là nền tảng của quan hệ bình đẳng, công bằng giữa các quốc gia; có vai trò và tầm quan trọng trong việc xây dựng một trật tự thế giới dựa trên luật lệ, thúc đẩy quan hệ giữa các quốc gia và tăng cường hợp tác đa phương. Tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế trong quan hệ quốc tế là yếu tố quyết định đảm bảo hòa bình, an ninh và là những điều kiện tiên quyết cho mọi hoạt động của cộng đồng quốc tế. Đó cũng là cách thức hữu hiệu nhằm ngăn ngừa xung đột cũng như tìm kiếm những giải pháp lâu bền cho tranh chấp, xung đột; giúp các bên và quốc gia khu vực, các quốc gia có liên quan và cộng đồng quốc tế đạt được các giải pháp công bằng, hợp lý quyền và lợi ích. Bởi vậy, các bên liên quan ở Biển Đông cần tuân thủ luật pháp quốc tế, kiềm chế và tránh có những hành động đơn phương làm phức tạp tình hình và gia tăng căng thẳng; giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế.  

Thứ ba, chính sách, pháp luật của các quốc gia về sử dụng, khai thác Biển Đông góp phần đảm bảo tự do hàng hải, tự do hàng không; duy trì hòa bình, an ninh, ổn định, hữu nghị, hợp tác và phát triển bền vững ở khu vực Biển Đông.

Những hành động gây căng thẳng ở Biển Đông của Trung Quốc - đặc biệt là “đường chín đoạn” phi pháp do Trung Quốc tự ý vạch ra - đã vi phạm các quy định của UNCLOS 1982 và càng làm cho các vấn đề tranh chấp trở lên phức tạp, đe dọa đến hòa bình, ổn định và lợi ích của các quốc gia trong khu vực, an ninh môi trường biển, an toàn hàng hải, hàng không ở Biển Đông. Một khi Trung Quốc hiện thực hóa tham vọng “đường chín đoạn” để biến Biển Đông thành “ao nhà” của họ theo những đòi hỏi chủ quyền phi lý và phi pháp thì không chỉ tự do hàng hải, hàng không trên Biển Đông mà cả hòa bình, an ninh, ổn định của khu vực và toàn cầu cũng bị đe dọa. Nếu xét tham vọng hàng hải và mong muốn kiểm soát thực tế Biển Đông của Trung Quốc, các thành viên ASEAN và Việt Nam có cùng mục tiêu chiến lược sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc thương lượng với Trung Quốc. Vì vậy, đòn bẩy chính của những quốc gia này trong cuộc đàm phán có lẽ là áp lực ngày càng tăng từ Hoa Kỳ và các đồng minh đối với Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông.

Duy trì môi trường hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển ở Biển Đông là bổn phận và trách nhiệm của các quốc gia và giải pháp duy nhất cho vấn đề hòa bình ở Biển Đông là sự tôn trọng và tuân thủ luật pháp quốc tế. Vì vậy, các bên liên quan cần xuất phát từ tinh thần và trách nhiệm chung, tôn trọng luật pháp quốc tế và UNCLOS 1982, chấm dứt các hành động căng thẳng, thiện chí hợp tác gìn giữ hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực; duy trì mẫu số lợi ích chung ASEAN, khai thác, bảo vệ tài nguyên và môi trường Biển Đông có hiệu quả trên cơ sở hợp tác quốc tế.

PGS, TS. ĐỖ ĐỨC MINH

Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội

Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục gửi về banbientapcsb@gmail.com

Các tin liên quan