24/11/2025 09:04:00 AM
(Canhsatbien.vn) -
Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) có vai trò quan trọng, là cầu nối để đưa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, quy định của Quân đội đến với đoàn viên, thanh niên (ĐVTN). Vì vậy, thời gian qua, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 1 đã thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo đổi mới về nội dung, hình thức tuyên truyền, PBGDPL phù hợp với đặc điểm tâm lý của từng đối tượng ĐVTN, góp phần nâng cao nhận thức, hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật cho ĐVTN trong toàn đơn vị.
Một buổi tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho đoàn viên, thanh niên tại Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 1.
Đảng ủy, Thủ trưởng Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 1 luôn xác định, muốn hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước, Quân đội và Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển giao cho thì yếu tố con người là đặc biệt quan trọng. Việc học tập, nâng cao bản lĩnh chính trị, trau dồi kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, pháp luật của từng cán bộ, chiến sĩ phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, thực chất; và một trong những biện pháp để nâng cao nhận thức, trình độ về pháp luật cho cán bộ, chiến sĩ Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 1 là thực hiện có hiệu quả công tác tuyên truyền, PBGDPL; trong đó, tập trung vào đối tượng ĐVTN vì đây là lực lượng đông đảo, có sức trẻ, nhiệt huyết, có khả năng tiếp thu tốt nhưng kinh nghiệm công tác và thời gian tích lũy kiến thức chưa nhiều. Việc thực hiện tuyên truyền, PBGDPL cũng là một trong những nhiệm vụ của Cảnh sát biển Việt Nam được quy định tại Luật Cảnh sát biển Việt Nam năm 2018 (Khoản 5, Điều 8).
Để công tác tuyên truyền, PBGDPL nói chung và tuyên truyền, PBGDPL đối với ĐVTN nói riêng đạt hiệu quả cao, Đảng ủy, Thủ trưởng Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 1 đã chỉ đạo các cơ quan chuyên môn chủ động xây dựng kế hoạch; tiến hành triển khai thực hiện tuyên truyền, PBGDPL cho ĐVTN một cách đồng bộ, khoa học; kiện toàn, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền, PBGDPL có bản lĩnh chính trị vững vàng, có năng lực chuyên môn, đồng thời giao nhiệm vụ cho từng cán bộ phụ trách các đơn vị nghiêm túc thực hiện việc tuyên truyền, PBGDPL theo quy định; thường xuyên đổi mới phương pháp, hình thức tuyên truyền sao cho dễ hiểu, dễ nhớ và phù hợp với từng nhóm đối tượng. Cùng với đó, để các buổi tuyên truyền, PBGDPL nói chung và đối với ĐVTN nói riêng không bị đơn điệu, khó hiểu, cán bộ phụ trách tuyên truyền thường lồng ghép các nội dung, chương trình khác để đa dạng hoá các hình thức tuyên truyền. Nội dung tuyên truyền tập trung vào các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam, nội quy, quy chế của Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển, Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 1; quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của công dân; quy định đối với ĐVTN,… Nội dung tuyên truyền được chuẩn bị chu đáo và chi tiết, có sự kiểm tra, thông qua của các cơ quan chuyên môn.
Từ những kết quả trong thời gian qua, Bộ Tư lệnh Vùng rút ra một số bài học kinh nghiệm như sau:
Thứ nhất, làm tốt công tác nâng cao năng lực tuyên truyền, PBGDPL cho ĐVTN tại Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 1. Trong đó, nhận thức của đội ngũ cán bộ, chiến sĩ trong việc thực hiện công tác tuyên truyền, PBGDPL nói chung và cho ĐVTN nói riêng có vai trò vô cùng quan trọng để nâng cao hiệu quả của hoạt động này. Lãnh đạo các cơ quan, ban, ngành có liên quan cần tiếp tục chủ động tổ chức các hoạt động quán triệt, phổ biến nhằm nâng cao nhận thức của cán bộ trong đơn vị về nhiệm vụ, trách nhiệm trong công tác phối hợp với các đơn vị liên quan trong việc thực hiện công tác tuyên truyền, PBGDPL cho ĐVTN. Tăng cường hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng cho cán bộ, chiến sĩ làm công tác tuyên truyền, PBGDPL cho ĐVTN như: Đề xuất với Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 1 thường xuyên tập huấn các chuyên đề về pháp luật, nhất là các văn bản pháp luật sắp có hiệu lực thi hành; nâng cao năng lực sư phạm, kỹ năng thuyết trình, khả năng làm việc nhóm, phương pháp lồng ghép kiến thức pháp luật vào thực tế cuộc sống,… dưới nhiều hình thức khác nhau đảm bảo phù hợp và hiệu quả, tránh chung chung, hình thức; làm tốt công tác phối hợp với các cơ sở giáo dục, đào tạo (Học viện Biên phòng, Học viện An ninh nhân dân, Học viện Cảnh sát nhân dân, Trung tâm Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ Cảnh sát biển,…) mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng phục vụ cho công tác tuyên truyền, PBGDPL như: kỹ năng viết báo cáo; kỹ năng thu thập thông tin và xử lý thông tin; kỹ năng thuyết trình,… Phân công nhiệm vụ phù hợp với năng lực của cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị kết hợp với thực hiện chế độ chính sách hợp lý, tạo động lực lao động, khát vọng cống hiến cho cán bộ, chiến sĩ là ĐVTN. Trong đánh giá, phân loại cần phải đảm bảo tính khách quan, trung thực, khen thưởng kịp thời để tạo động lực làm việc và nhắc nhở, phê bình đúng thời điểm đối với mỗi cán bộ, chiến sĩ khi thực hiện nhiệm vụ, tránh trung bình chủ nghĩa.
Thứ hai, các cơ quan, đơn vị trong Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 1 cần nhận thức rõ và đầy đủ hơn nữa vai trò của quan hệ phối hợp trong tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền, PBGDPL cho ĐVTN. Thời gian tới, giữa các đơn vị trong nội bộ Bộ Tư lệnh Vùng cần tăng cường trao đổi, xây dựng nội dung phối hợp trong thực hiện công tác tuyên truyền, PBGDPL cho ĐVTN. Qua nhiều lần phối hợp thực hiện sẽ đúc kết được kinh nghiệm và xác định được những vấn đề tồn tại cũng như phương pháp giải quyết một cách hợp lý nhất, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động, không bị chồng chéo giữa các cơ quan trong quá trình thực hiện nhiệm vụ; chú trọng công tác tăng cường giao lưu ĐVTN với các lực lượng, cơ quan, đơn vị khác làm công tác thực thi pháp luật như Công an, Bộ đội Biên phòng, Viện Kiểm sát nhân dân, Toà án, Hải quan,… về nhiều mặt, cả chuyên môn nghiệp vụ và các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao nhằm cọ xát, học hỏi lẫn nhau, xây dựng mối quan hệ hữu nghị, nâng cao hiệu quả công tác phối hợp giữa các bên; phối hợp, trao đổi kinh nghiệm công tác tuyên truyền, PBGDPL như mời báo cáo viên các lực lượng khác đến trao đổi, lên lớp; trao đổi tài liệu tuyên truyền, PBGDPL; tham quan, học tập mô hình tuyên truyền, PBGDPL,…
Thứ ba, các cơ quan, đơn vị có liên quan thực hiện nghiên cứu các nội dung cần thu thập thông tin, tài liệu, tiến hành phân tích nhu cầu tìm hiểu về các lĩnh vực pháp luật của ĐVTN theo ngành nghề, độ tuổi, giới tính,… qua đó tìm ra phương pháp tiếp cận tuyên truyền, PBGDPL phù hợp. Ví dụ: ĐVTN nữ từ 23 tuổi đến 28 tuổi, nam từ 26 tuổi đến 30 tuổi thì nhu cầu tìm hiểu về hôn nhân và gia đình lớn hơn các nhóm độ tuổi khác tại đơn vị; hay ĐVTN ngành hậu cần, kỹ thuật có xu hướng tìm hiểu về các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến đấu thầu, mua sắm nhiều hơn,…Từ đó, sẽ chủ động trong công tác truyên truyền, PBGDPL, lấy người được tuyên truyền, phổ biến, giáo dục làm trung tâm. Bên cạnh đó, cần thu thập, làm rõ về tình hình nhận thức, trình độ hiểu biết pháp luật của cán bộ, chiến sĩ tại Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 1 nhằm chủ động tính toán các biện pháp tuyên truyền, PBGDPL phù hợp.
Thứ tư, đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp tuyên truyền, PBGDPL cho ĐVTN tại Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 1, các cơ quan chuyên môn cần lựa chọn những nội dung kiến thức về các lĩnh vực pháp luật cụ thể, liên quan mật thiết tới vấn đề mà đoàn viên, thanh niên tại Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển 1 quan tâm để tập trung tuyên truyền, phổ biến. Mặt khác, cần cập nhật nội dung những văn bản pháp luật mới được ban hành, điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung; chú trọng trang bị những nội dung kiến thức về các văn bản quy phạm pháp luật, các nghị định, thông tư hướng dẫn, nhất là những văn bản có liên quan trực tiếp tới vấn đề bảo đảm an ninh trật tự trên biển, tới Lực lượng Cảnh sát biển,…; chú trọng trang bị cho cán bộ, chiến sĩ những nội dung thông tin về thực tiễn đời sống pháp luật, kỹ năng vận dụng các quy phạm pháp luật để xử lý, giải quyết các sự việc, sự kiện, tình huống pháp lý xảy ra trong cuộc sống; những mâu thuẫn, chồng chéo trong thực tiễn thực thi pháp luật; khả năng vận dụng, áp dụng pháp luật một cách chính xác, hợp lý. Về hình thức tuyên truyền, PBGDPL cho ĐVTN đã được Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 1 sử dụng một cách linh hoạt, đa dạng và phong phú. Tuy nhiên, Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 1 chưa xác định được hình thức tuyên truyền, phổ biến chủ yếu, phù hợp với từng nội dung và các đối tượng cụ thể để có các phương pháp triển khai phù hợp. Vì vậy, trong thời gian tới, cần tiếp tục đa dạng hóa, đổi mới các hình thức tuyên truyền, PBGDPL cho ĐVTN sao cho phù hợp với trình độ nhận thức, lối sống sinh hoạt của đối tượng được tuyên truyền, PBGDPL. Có thể điều chỉnh về cả không gian, thời gian,… cho phù hợp với điều kiện học tập, công tác của từng nhóm đối tượng cụ thể; cần sử dụng linh hoạt, đồng bộ nhiều hình thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật như: Tuyên truyền miệng; biên soạn tài liệu phổ thông dưới dạng hỏi đáp pháp luật, tình huống pháp luật; tuyên truyền pháp luật trên các phương tiện truyền thanh nội bộ; xây dựng câu lạc bộ pháp luật; tủ sách pháp luật; thi tìm hiểu pháp luật; thông qua tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý,... đã và đang được triển khai mạnh mẽ. Đặc biệt, cần sử dụng trang thông tin điện tử của Lực lượng, của ngành chuyên môn, hay các trang mạng xã hội phù hợp để thực hiện hoạt động tuyên truyền, PBGDPL.
Thứ năm, tổng hợp những kinh nghiệm ứng xử, xử lý các tình huống có thể gặp phải khi thực hiện nhiệm vụ cho ĐVTN công tác trong khối nghiệp vụ pháp luật. Phương pháp này rất phù hợp với các cán bộ nghiệp vụ trẻ, mới tốt nghiệp nhận công tác vì ngoài việc nắm chắc và kịp thời cập nhật, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến hoạt động của Lực lượng Cảnh sát biển, đội ngũ cán bộ nghiệp vụ và pháp luật nói chung và ĐVTN công tác trong khối nghiệp vụ pháp luật nói riêng có đặc thù công tác trong điều kiện độc lập, xa đơn vị, phải xử lý nhiều tình huống phức tạp về an ninh trật tự trên biển, đòi hỏi phải có một nền tảng kiến thức pháp luật vững chắc và đặc biệt phải có bản lĩnh, kinh nghiệm xử lý các tình huống có thể xảy ra. Tuy nhiên, bản lĩnh, kinh nghiệm công tác cần quá trình rèn luyện, tích luỹ qua thời gian, cần có sự học hỏi, kế thừa từ các thế hệ đi trước và tự đúc kết kinh nghiệm của bản thân. Để hệ thống hoá và đúc kết được những kinh nghiệm, cách xử lý tình huống áp dụng trong thực tiễn của cán bộ, ĐVTN công tác trong khối nghiệp vụ và pháp luật, rất cần xây dựng, tổng hợp kinh nghiệm ứng xử, xử lý các tình huống có thể gặp phải khi thực hiện nhiệm vụ.
Việc xây dựng một hệ thống các tình huống có thể gặp phải và cách thức xử lý từng tình huống phải kết hợp giữa cơ sở về pháp lý với kinh nghiệm, trình độ của từng cán bộ trong xử lý tình huống. Khi gặp tình huống cần phải xử lý, không phải cứ dập khuôn máy móc kinh nghiệm của người đi trước là sẽ mang lại hiệu quả vì điều kiện, hoàn cảnh, đối tượng sẽ khác nhau dẫn đến cách thức xử lý tình huống cũng phải khác nhau. Vì vậy, nên hướng dẫn ứng xử, xử lý tình huống này mang tính chất tham khảo, rút kinh nghiệm của các thế hệ đi trước, đồng thời giúp cán bộ trẻ có thể hình dung ra phần nào đặc thù công việc và các điều kiện, hoàn cảnh có thể xảy ra khi thực hiện nhiệm vụ.
Đặc điểm của việc tổng hợp các kỹ năng ứng xử, xử lý các tình huống này là tính mở, tính kế thừa và tương đối; nội dung tình huống phải thực tế, không sáo rỗng, không nặng về lý thuyết, giáo điều; phải đảm bảo sự kế thừa kinh nghiệm giữa các thế hệ. Chính vì vậy, việc tổng hợp phải được tiến hành định kỳ, thường xuyên, lấy ý kiến của từng cá nhân tham gia thực hiện nhiệm vụ trong việc chia sẻ những tình huống đã gặp trong thực tế và đề xuất cách xử lý; cách xử lý phải được thẩm định của chỉ huy các cấp để đảm bảo các yêu cầu về chính trị, pháp luật, nghiệp vụ.
Thứ sáu, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý tài liệu pháp luật của mỗi cá nhân và có khả năng liên kết, chia sẻ tài liệu trong một đơn vị thông qua các ứng dụng trên máy tính và thiết bị di động (Ví dụ như: Google tài liệu và các ứng dụng tương tự trên máy tính và thiết bị di động). Trong thực tiễn thực hiện nhiệm vụ, ngoài việc mang theo tài liệu, văn bản pháp luật thường dùng bản giấy được in ấn sẵn, cán bộ Cảnh sát biển còn kết hợp tra cứu thông tin về các văn bản quy phạm pháp luật khác thông qua các thiết bị di động như máy tính cá nhân, điện thoại thông minh bằng việc lưu các file tài liệu trên bộ nhớ thiết bị hoặc tra cứu trực tiếp qua mạng internet, mạng viễn thông.
Tuy nhiên, ở điều kiện công tác độc lập trên biển, xa bờ, việc tra cứu trực tiếp qua mạng Internet, mạng viễn thông khó thực hiện; lúc này việc lưu trữ các tài liệu trên bộ nhớ thiết bị có hiệu quả trong việc tra cứu nhưng việc chia sẻ dữ liệu, tài liệu giữa các cá nhân trong cùng một đơn vị, hay việc một cá nhân có thể bổ sung, chỉnh sửa, hiệu chỉnh những nội dung tài liệu chung, khả năng liên kết thì chưa phát huy được hiệu quả.
Việc sử dụng các ứng dụng trên thiết bị di động như Google tài liệu trong thực tiễn thực hiện nhiệm vụ sẽ làm cho các cá nhân chủ động hơn trong việc tra cứu tài liệu; phát huy được trí tuệ tập thể; kịp thời sửa đổi, bổ sung các thay đổi của văn bản quy phạm pháp luật có liên quan; nâng cao khả năng làm việc nhóm; sử dụng được tài liệu lưu trữ ngay cả khi không có kết nối Internet và thuận tiện khi lựa chọn thiết bị lưu trữ (điện thoại thông minh, máy tính,…). Tuy nhiên, cần đặc biệt chú ý đến công tác bảo vệ bí mật Nhà nước, bí mật quân sự trong việc ứng dụng khoa học công nghệ vào công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật.
Bên cạnh các giải pháp nêu trên, cần phát huy tính chủ động, sáng tạo của ĐVTN trong công tác tuyên truyền, PBGDPL; tiếp tục động viên ĐVTN tham gia nghiên cứu, đóng góp ý kiến, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả tuyên truyền, PBGDPL tại đơn vị, góp phần xây dựng đơn vị vững mạnh, toàn diện, mẫu mực tiêu biểu, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao./.
Thiếu tá NGUYỄN THỊ KIM OANH
Trợ lý Công tác Quần chúng/Phòng Chính trị/Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 1
Đại úy VŨ THANH BÌNH
Trợ lý, Cảnh sát viên/Đội Nghiệp vụ số 1/Phòng Pháp luật/Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 1