Quy định về công tác phối hợp của Cảnh sát biển Việt Nam trong đấu tranh phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại

24/11/2025 11:04:00 AM

(Canhsatbien.vn) - 

Phòng, chống buôn lậu và gian lận thương mại là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam. Hiện nay, hệ thống pháp luật quy định về công tác phòng, chống buôn lậu và gian lận thương mại đang ngày càng được hoàn thiện, tạo hành lang pháp lý quan trọng để các lực lượng chức năng nói chung, Cảnh sát biển nói riêng tiến hành thực hiện nhiệm vụ trên các vùng biển, đảo Việt Nam được bảo đảm thống nhất; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, bảo vệ của Nhà nước trên các vùng biển; nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật của nhân dân, góp phần khẳng định chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn trên biển; giữ vững ổn định, hòa bình trên hướng biển của Tổ quốc.

Điều 8, Luật Cảnh sát biển Việt Nam năm 2018 quy định cụ thể các nhiệm vụ của Cảnh sát biển Việt Nam, tại khoản 3, Luật nêu rõ Cảnh sát biển Việt Nam có nhiệm vụ “Đấu tranh phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật, giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn trên biển…”. Tại Điều 20 quy định về nội dung hợp tác quốc tế của Cảnh sát biển Việt Nam, Luật cũng nhấn mạnh Lực lượng Cảnh sát biển thực hiện “Phòng, chống tội phạm ma túy, mua bán người, mua bán vũ khí trái phép, khủng bố, hoạt động xuất cảnh, nhập cảnh bất hợp pháp, buôn bán, vận chuyển hàng hóa trái phép qua biên giới, khai thác hải sản bất hợp pháp và tội phạm, vi phạm pháp luật khác trên biển trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của Cảnh sát biển Việt Nam”. Về nội dung phối hợp hoạt động giữa Cảnh sát biển Việt Nam với cơ quan, tổ chức, lực lượng chức năng, tại Khoản 4, Điều 24, Luật quy định Cảnh sát biển Việt Nam phối hợp thực hiện “…Phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh chống tội phạm, vi phạm pháp luật…”.

Công tác phối hợp giữa Cảnh sát biển với các cơ quan, đơn vị và lực lượng chức năng trong hoạt động đấu tranh phòng, chống buôn lậu và gian lận thương mại hiện nay được quy định cụ thể và điều chỉnh bởi nhiều văn bản quy phạm pháp luật.

Quyết định số 65/2010/QĐ-TTg ngày 25/10/2010 của Thủ tướng Chính phủ về “Ban hành quy chế về trách nhiệm và quan hệ phối hợp hoạt động giữa các cơ quan quản lý Nhà nước trong công tác đấu tranh phòng, chống buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại” quy định Bộ Quốc phòng chỉ đạo Lực lượng Cảnh sát Biển và Bộ đội Biên phòng các cấp kết hợp việc tuần tra đảm bảo an ninh biên giới với việc đấu tranh phát hiện các tổ chức, cá nhân, các đường dây, ổ nhóm buôn lậu, sản xuất, kinh doanh hàng giả và vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới; xử lý kịp thời những hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật. Đồng thời, Lực lượng Cảnh sát biển chịu trách nhiệm chủ trì tuần tra, kiểm tra, kiểm soát đấu tranh phòng, chống buôn lậu, hàng giả, gian lận thương mại trên các vùng biển, tập trung vào những vùng biển trọng điểm, nhiều khả năng xảy ra các hoạt động buôn lậu, gian lận thương mại, những vùng biển, luồng, tuyến quốc tế có mật độ tàu thuyền vận chuyển hàng hóa lớn; kịp thời xử lý các hành vi theo quy định của pháp luật; tuyên truyền, vận động các tổ chức, cá nhân hoạt động trên biển không thực hiện, tiếp tay cho hoạt động buôn lậu, gian lận thương mại trên biển, không tham gia vận chuyển hàng hóa trái phép trên biển; tích cực tham gia đấu tranh chống buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại trên biển; chủ trì hợp tác quốc tế với lực lượng tuần tra, kiểm soát thực thi pháp luật trên biển của các nước láng giềng trong việc tuần tra, kiểm soát theo phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình; trao đổi thông tin, phối hợp điều tra bắt giữ tội phạm.

Điều 88, Luật Hải quan năm 2014 và Khoản a, Điều 4, Quyết định số 19/2016/QĐ-TTg ngày 06/5/2016 của Thủ tướng Chính phủ về“Ban hành quy chế về trách nhiệm và quan hệ phối hợp hoạt động giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong công tác đấu tranh phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả” quy định phạm vi trách nhiệm phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, trường hợp có căn cứ xác định hàng hóa buôn lậu, vận chuyển trái phép qua biên giới, phương tiện vận tải chở hàng hóa buôn lậu, vận chuyển trái phép qua biên giới đang di chuyển từ địa bàn hoạt động hải quan ra ngoài địa bàn hoạt động hải quan thì cơ quan Hải quan tiếp tục truy đuổi, thông báo cho cơ quan Công an, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển, Quản lý thị trường trên địa bàn để phối hợp, đồng thời áp dụng các biện pháp ngăn chặn, xử lý theo quy định của pháp luật. Việc dừng, truy đuổi phương tiện vận tải nước ngoài đang đi trong vùng biển Việt Nam được thực hiện theo quy định của Luật Biển Việt Nam.

Nghị định số 01/2015/NĐ-CP ngày 2/1/2015 của Chính phủ về “Quy định chi tiết phạm vi địa bàn hoạt động hải quan; trách nhiệm phối hợp trong phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới” áp dụng đối với các cơ quan Hải quan, Công an, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển, Quản lý thị trường, Ủy ban nhân dân các cấp và các cơ quan hữu quan khác có trách nhiệm trong công tác phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới; tổ chức, cá nhân có quyền và nghĩa vụ liên quan đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hàng hóa; xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phương tiện vận tải. Theo đó, Điều 14 của Nghị định nêu rõ: Lực lượng Cảnh sát biển có trách nhiệm phối hợp, hỗ trợ cơ quan Hải quan trong tuần tra, kiểm soát, kiểm tra, truy đuổi, dừng phương tiện tại vùng nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải; thực hiện các biện pháp ngăn chặn, điều tra, lập hồ sơ và xử lý vi phạm liên quan đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu khi có yêu cầu.

Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm trao đổi, cung cấp thông tin liên quan đến hoạt động buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới về tình hình vi phạm, hàng hóa vi phạm; phương thức, thủ đoạn vi phạm mới liên quan đến buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới; thông tin về tình hình buôn bán, vận chuyển hàng hóa buôn lậu trên thị trường nội địa; thông tin về đường dây, ổ nhóm, các tuyến đường, địa bàn trọng điểm liên quan đến buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới; thông tin về hàng hóa, đối tượng buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới; thông tin về vụ việc vi phạm đã bắt giữ, xử lý gồm: Tổ chức, cá nhân vi phạm; tên, chủng loại, xuất xứ hàng hóa vi phạm; cửa khẩu, khu vực biên giới hàng hóa được đưa vào nội địa, tuyến đường vận chuyển trong nội địa; phương thức, thủ đoạn buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới,… Việc trao đổi, cung cấp, sử dụng và bảo mật thông tin phải được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.

Bên cạnh đó, Điều 15, Nghị định số 01/2015/NĐ-CP cũng quy định trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, theo đề nghị của cơ quan Hải quan thì cơ quan Công an, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển, Quản lý thị trường có trách nhiệm phối hợp lực lượng, hỗ trợ điều kiện cơ sở vật chất để thực hiện khám người, phương tiện vận tải, đồ vật, nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính theo thủ tục hành chính và áp giải người vi phạm; phối hợp, hỗ trợ lực lượng, phương tiện trong việc lấy lời khai, thu thập thông tin, tài liệu, chứng cứ, mở rộng điều tra, xác lập chuyên án; phối hợp trong việc xử lý các vụ việc vi phạm.

Trong phạm vi địa bàn hoạt động hải quan, căn cứ nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan Hải quan chủ trì, phối hợp với Ủy ban nhân dân các cấp, cơ quan Công an, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển, Quản lý thị trường và các cơ quan hữu quan khác tổ chức tuyên truyền phổ biến chính sách, pháp luật liên quan đến công tác phòng chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới. Nội dung này được quy định chi tiết tại Điều 15a, Nghị định số 12/2018/NĐ-CP ngày 23/1/2018 (có hiệu lực kể từ ngày 10/3/2018) về điều chỉnh, bổ sung một số điều của Nghị định số 01/2015/NĐ-CP.

Tại một số văn bản quy phạm pháp luật khác như Luật Công an nhân dân 2018, Luật Quốc phòng 2018, Luật Dân quân tự vệ 2019, Quyết định số 107/2003/QĐ-TTg về “Ban hành quy chế phối hợp giữa Bộ Quốc phòng và Bộ Công an trong việc bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội”, Quy chế phối hợp số 10472/QC-TCHQ-BTLCSB về “Quy chế phối hợp giữa Tổng cục Hải quan và Lực lượng Cảnh sát biển trên các vùng biển và thềm lục địa nước CHXHCN Việt Nam”,... đã quy định cụ thể về nguyên tắc hoạt động phối hợp giữa các lực lượng trong thực hiện quản lý Nhà nước về giữ vững chủ quyền, biên giới quốc gia; duy trì an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở khu vực biên giới, cửa khẩu, hải đảo, vùng biển và vùng trời Tổ quốc, trong đó có Lực lượng Cảnh sát biển. Đặc biệt, Luật Cảnh sát biển Việt Nam năm 2018 bố cục riêng Chương IV quy định rõ về phạm vi, nguyên tắc, nội dung phối hợp và trách nhiệm của Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch UBND cấp tỉnh trong phối hợp hoạt động với Lực lượng Cảnh sát biển, bao gồm công tác phòng, chống buôn lậu và gian lận thương mại, góp phần quan trọng định hướng xây dựng mô hình, tổ chức phối hợp giữa các cơ quan và lực lượng chức năng với Cảnh sát biển Việt Nam.

Trong bối cảnh mới, việc triển khai hoạt động phối hợp đấu tranh phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại giữa Lực lượng Cảnh sát biển với các cơ quan chức năng còn có những vướng mắc mang tính đặc thù. Tuy nhiên, với hệ thống văn bản quy phạm pháp luật tương đối toàn diện, những năm qua, Lực lượng Cảnh sát biển đã nỗ lực khắc phục khó khăn, triển khai tích cực hoạt động phối hợp tuần tra, kiểm tra, kiểm soát và thực thi pháp luật trên các vùng biển, đạt được nhiều thành tích đáng ghi nhận. Kết quả đó không chỉ thể hiện sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, mà còn là động lực to lớn cổ vũ tinh thần, quyết tâm vào cuộc của nhân dân và chính quyền các địa phương, góp phần đẩy lùi nạn buôn lậu, gian lận thương mại, giữ vững môi trường lành mạnh, trật tự, an ninh, an toàn vì sự phát triển phồn vinh và vững bền của đất nước./.

Thiếu tá HOÀNG VĂN BIÊN

Thuyền trưởng tàu CSB 4031/Hải đội 301/Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 3

Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục gửi về banbientapcsb@gmail.com