Bàn về biện pháp vũ trang trong thực thi pháp luật trên biển

14/11/2025 10:35:00 AM

(Canhsatbien.vn) - 

Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, bất kỳ nhà nước nào khi ra đời cũng thành lập lực lượng bảo vệ nhà nước đó nhằm chống lại sự xâm lược từ bên ngoài và duy trì trật tự xã hội, trấn áp phần tử chống đối bên trong. Do vậy, việc sử dụng biện pháp vũ trang luôn gắn liền với sự ra đời của Nhà nước có giai cấp. Đây là công cụ sắc bén để thiết lập và duy trì trật tự xã hội. Đối với Nhà nước xã hội chủ nghĩa, với bản chất chuyên chính vô sản, Nhà nước cũng sử dụng biện pháp vũ trang nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân và Nhân dân lao động, trấn áp những những phần tử chống đối cách mạng. Cảnh sát biển là lực lượng chuyên trách của Nhà nước, được quyền sử dụng biện pháp vũ trang trong thực thi pháp luật trên biển, nhằm bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán, lợi ích quốc gia, dân tộc, đấu tranh phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật trên biển.

Bản chất của việc áp dụng biện pháp vũ trang trong bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán, lợi ích quốc gia, dân tộc trên biển

Biện pháp vũ trang (BPVT) là thuật ngữ đã xuất hiện từ lâu trong nghiên cứu quan hệ quốc tế, các vấn đề quân sự hay giải quyết xung đột vũ trang quốc tế. Xét ở góc độ chính trị học so sánh, các mô hình BPVT có sự phân chia rõ rệt theo cả chiều dọc lịch sử và chiều ngang thể chế. Theo đó, sự khác nhau phụ thuộc mức độ dân chủ, các nền văn hóa, văn minh, theo mô hình nhà nước gồm mô hình nhà nước bảo vệ, mô hình nhà nước cảnh sát, mô hình nhà nước phúc lợi, mô hình nhà nước điều chỉnh. Theo Lênin, dựa vào sự kiểm soát quyền lực nhà nước, có hai mô hình: một là Nhà nước mà quyền lực chính trị thuộc về đa số, hai là nhà nước mà quyền lực thuộc về thiểu số. Theo tính chất chính phủ gồm dân chủ, độc đoán, chuyên chế, theo số lượng đảng phái được công nhận v.v...

Bản chất giai cấp của nhà nước quy định bản chất giai cấp của Quân đội, chính lực lượng chuyên trách thực hiện BPVT, bản chất giai cấp của Quân đội là tương đối ổn định nhưng không phải là bất biến, bởi chịu sự chi phối của nhiều yếu tố như: giai cấp, nhà nước, các lực lượng, tổ chức chính trị - xã hội và việc giải quyết các mối quan hệ trong Quân đội. Sự tác động của các yếu tố này có thể khiến sức mạnh quân đội được tăng cường hoặc suy yếu, thậm chí bị biến chất và tuột khỏi tay Nhà nước, giai cấp đã tổ chức và nuôi dưỡng Quân đội đó. Do đó, nghiên cứu BPVT không cố định ở một khuôn mẫu duy nhất, bởi đó là đặc trưng của mỗi đối tượng Nhà nước nêu trên, mà nhà nước là chủ thể biến đổi không ngừng theo tiến trình phát triển của xã hội loài người.

Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, bất kỳ nhà nước nào khi ra đời cũng thành lập lực lượng bảo vệ nhà nước đó nhằm chống lại sự xâm lược từ bên ngoài và duy trì trật tự xã hội, trấn áp phần tử chống đối bên trong. Do vậy, việc sử dụng biện pháp vũ trang luôn gắn liền với sự ra đời của Nhà nước có giai cấp. Đây là công cụ sắc bén để thiết lập và duy trì trật tự xã hội. Đối với Nhà nước xã hội chủ nghĩa, với bản chất chuyên chính vô sản, Nhà nước cũng sử dụng biện pháp vũ trang nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân và Nhân dân lao động, trấn áp những những phần tử chống đối cách mạng. Cảnh sát biển là lực lượng chuyên trách của Nhà nước, được quyền sử dụng biện pháp vũ trang trong thực thi pháp luật trên biển, nhằm bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán, lợi ích quốc gia, dân tộc, đấu tranh phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật trên biển.

Theo lý thuyết chính trị học, Nhà nước quy định các định chế, các giá trị, chuẩn mực hợp thành những nguyên tắc tổ chức và phương thức vận hành của một lực lượng vũ trang và sử dụng lực lượng đó trở thành BPVT cho mục đích nhất định. Về mặt lý luận, Lênin cho rằng Nhà nước là một hiện tượng lịch sử, chỉ trong xã hội có giai cấp, Nhà nước mới tồn tại và phản ánh cuộc đấu tranh giai cấp bằng cách trở thành một công cụ trấn áp trong tay một giai cấp nhất định. Lênin viết: Nhà nước chỉ là một tổ chức thống trị của một giai cấp, và nhấn mạnh: Bất cứ nhà nước nào cũng là một bộ máy để một giai cấp này trấn áp giai cấp khác, suy rộng ra trong quan hệ quốc tế là quốc gia này tạo ảnh hưởng lên quốc gia khác thông qua sức mạnh vũ trang. Do đó cũng có thể hiểu, BPVT là hình thức thể hiện ý chí của hệ thống chính trị thuộc thượng tầng kiến trúc, được xây dựng và quy định bởi cơ sở chính trị - xã hội nhằm bảo vệ quyền lực và lợi ích của giai cấp cầm quyền. Nghiên cứu từ học thuyết chính trị, chính sách biển cho thấy, biện pháp vũ trang trên biển vừa mang những đặc điểm của biện pháp vũ trang nói chung, vừa mang những đặc trưng riêng để phù hợp với điều kiện triển khai chính sách trên biển của nhà nước.

Nhận thức về biện pháp vũ trang được mở rộng và xem xét một cách kỹ lưỡng từ khi Nhà nước xuất hiện, qua các thời kỳ cổ đại, trung đại, cận đại và hiện đại, cho thấy BPVT là phương thức cơ bản để Quân đội của một nhà nước tiến hành bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ, duy trì an ninh, trật tự xã hội. Đấu tranh vũ trang là hệ quả của việc xuất hiện giai cấp và Nhà nước, BPVT ra đời nhằm bảo vệ Nhà nước, bảo vệ giai cấp cầm quyền. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, khi xã hội đạt đến mô hình Nhà nước Cộng sản chủ nghĩa không có giai cấp thì các lực lượng vũ trang cũng sẽ tự giải thể. Do vậy, kể cả khi tồn tại các tổ chức liên chính phủ như Liên hợp quốc và hệ thống pháp luật quốc tế dày đặc như hiện nay, BPVT vẫn là một phần không thể thiếu trong quan hệ quốc tế đương đại.

Luật An ninh quốc gia 2004 nước ta quy định: Bảo vệ an ninh quốc gia là phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh làm thất bại các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia. Luật Quốc phòng Việt Nam 2018 quy định: Quốc phòng là công cuộc giữ nước bằng sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, trong đó sức mạnh quân sự là đặc trưng, lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt. Quân sự là hoạt động đặc biệt của xã hội về xây dựng lực lượng vũ trang, đấu tranh vũ trang, trong đó Quân đội nhân dân làm nòng cốt. Như vậy, có thể hiểu BPVT là một trong những biện pháp công tác của lực lượng vũ trang chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia được thực hiện theo quy định của pháp luật. Đồng thời BPVT nằm trong khái niệm quốc phòng và là đặc trưng của hoạt động quân sự để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia dân tộc.

Ngoại diên của BPVT là sức mạnh vũ trang, sức mạnh vũ trang có tính chất cơ bản và truyền thống trong quan hệ quốc tế, là hình ảnh phản chiếu quyền lực của một quốc gia trong hệ thống chính trị thế giới, đó là việc chuẩn bị lực lượng và vũ khí chiến đấu của Nhà nước với nhiều mục đích khác nhau, hoặc là đe dọa chiến tranh, hoặc là bảo vệ hòa bình. BPVT với vai trò là nội hàm, mang đầy đủ các tính chất của sức mạnh vũ trang. Xét về mặt từ ngữ, biện pháp được hiểu là cách thức thực hiện; cách giải quyết một vấn đề, vũ trang về động từ là trang bị vũ khí để con người chiến đấu, tính từ là có tính chất quân sự và có trang bị vũ khí. Bóc tách đối tượng trong mối quan hệ cặp phạm trù nội hàm - ngoại diên, có thể rút ra khái niệm BPVT là hoạt động sử dụng lực lượng con người, phương tiện và vũ khí chuyên dụng để tiến hành các hoạt động quân sự như tuần tra, canh gác, quan sát, phục kích, tập kích, truy lùng, thường trực sẵn sàng chiến đấu, trấn áp các hoạt động vũ trang phá hoại của các thế lực thù địch và tội phạm nhằm áp đặt ý chí lên các đối tượng hoặc chủ thể đó qua hai hình thức vũ trang tấn công hoặc vũ trang tự vệ.

Trong tác phẩm "Sự ảnh hưởng của quyền lực hàng hải đối với lịch sử" - The Influence of Sea Power Upon History, A.T. Mahan (1840 - 1914) đã lần đầu tiên đưa ra khái niệm quyền lực biển và sức mạnh trên biển. Đây là nền tảng cho các học thuyết về quyền lực biển sau này và có tầm ảnh hưởng mạnh mẽ đến tiến trình xây dựng chính sách biển của nhiều cường quốc phương Tây, trong đó ông khẳng định vai trò quan trọng của biển trong sự phát triển của một quốc gia. Theo đó các lực lượng hải quân lớn mạnh nhất trên thế giới, có thể hiểu là lực lượng vũ trang trên biển lớn mạnh nhất sẽ nắm quyền lực trên biển và chi phối luật chơi ở các đại dương, đồng thời biển là nguồn lực đem lại nhiều lợi thế giúp quốc gia phát triển kinh tế nhanh hơn các quốc gia không giáp biển.

Các yếu tố quy định nội dung BPVT trên biển có nhiều tương đồng với các quan điểm về quyền lực biển, sức mạnh vũ trang, hay sức mạnh quân sự. Có thể hiểu BPVT trong thực thi pháp luật trên biển là hoạt động sử dụng vũ khí, trang bị kỹ thuật chuyên dụng của các lực lượng quản lý và thực thi pháp luật trên biển nhằm mục đích dự đoán, phát hiện, xử lý đúng đối tượng tác chiến, thủ đoạn, phương thức phá hoại của các thế lực âm mưu và hành động xâm phạm đến lợi ích kinh tế - xã hội cũng như độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, đồng thời duy trì thực thi pháp luật trên biển theo luật pháp quốc gia sở tại và luật pháp quốc tế. Về bản chất, BPVT là một phương thức chủ yếu trong thực thi pháp luật trên biển hiện nay, là quyền lực quốc gia định hướng hành động cho các chủ thể hoạt động trên biển, là công cụ để trấn áp, duy trì các hoạt động chung, thống nhất của cộng đồng những người hoạt động trên biển. Thông thường, BPVT được triển khai thực hiện dưới sự tổ chức và lãnh đạo của đảng cầm quyền và được quản lý bởi chính phủ. Ở Việt Nam, Nghị quyết số 51-NQ/TW ngày 20/7/2005 của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương khóa IX nêu rõ Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo lực lượng vũ trang Nhân dân theo nguyên tắc tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt. Theo chủ nghĩa Mác - Lênin đó là sứ mệnh lịch sử của Đảng, là một tất yếu khách quan của phát triển xã hội.

Cơ sở sử dụng BPVT trong thực thi pháp luật trên biển nhằm bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán, đấu tranh phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật trên biển

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Trong cuộc đấu tranh gian khổ chống kẻ thù của giai cấp và của dân tộc, cần dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền. Để bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, việc sử dụng BPVT có vai trò đặc biệt quan trọng, là sự tất yếu khách quan của mọi nhà nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Nhận thức rõ tầm quan trọng đó, trong quá trình tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc, cách mạng xã hội chủ nghĩa và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm tới việc tiến hành BPVT bảo vệ Nhà nước, bảo vệ toàn vẹn chủ quyền biển đảo, bảo vệ Nhân dân và xây dựng lực lượng Cảnh sát biển. Ngoài Lực lượng Cảnh sát biển còn có một số lực lượng được sử dụng BPVT trong thực thi nhiệm vụ của mình như Hải quân, Bộ đội Biên phòng, Dân quân tự vệ biển, Kiểm ngư, Hải quan v.v.. Đối với Việt Nam, tình hình thực tiễn đặt ra những yêu cầu mới về quản lý, bảo vệ các vùng biển, đảo của Tổ quốc, ngày 19/11/2018, Luật Cảnh sát biển Việt Nam được Quốc hội khóa XIV thông qua tại kỳ họp thứ 6, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2019, quy định rõ Cảnh sát biển Việt Nam là lực lượng vũ trang Nhân dân, lực lượng chuyên trách của Nhà nước, làm nòng cốt thực thi pháp luật và bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn trên biển.

Hoạt động vũ trang của Cảnh sát biển Việt Nam trên vùng biển nước ta được triển khai trên cơ sở các văn bản chính trị và pháp lý quan trọng như Công ước Luật Biển của Liên hợp quốc năm 1982, Tuyên bố về Ứng xử của các bên tại Biển Đông - DOC năm 2002, Luật Biển Việt Nam năm 2012, Luật An ninh quốc gia năm 2004, Luật Cảnh sát biển Việt Nam năm 2018, Luật Biên giới quốc gia năm 2003, Tuyên bố về các vùng biển Việt Nam năm 1977, Tuyên bố về đường cơ sở vùng biển Việt Nam năm 1982, Nghị định số 30/NĐ-CP về Quy chế cho tàu thuyền nước ngoài hoạt động trên các vùng biển Việt Nam năm 1980, Nghị định số 31/NĐ-CP về Hoạt động của tàu cá nước ngoài trong các vùng biển của Việt Nam năm 1980, Quyết định số 13/HĐBT về Tăng cường bảo vệ chủ quyền và an ninh các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam năm 1986, Nghị định số 55/NĐ-CP về Hoạt động của tàu quân sự nước ngoài vào thăm nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1996, sau này được thay thế bằng Nghị định số 104/2012/NĐ-CP năm 2012.

Cảnh sát biển Việt Nam sau khi phát hiện tàu có dấu hiệu vi phạm sẽ thông báo cho tàu đó hợp tác để kiểm tra và xử lý bằng nhiều cách thức khác nhau như loa thông báo, truyền mệnh lệnh hoặc bắn chỉ thiên. Nếu tàu đó chống đối lực lượng thi hành công vụ hoặc bỏ trốn, BPVT được triển khai sau khi cấp có thẩm quyền xét duyệt đồng ý. Điều này đồng thời thể hiện tính nhân đạo trong cách xử lý tình huống trên biển của lực lượng chấp pháp nước ta, song cũng đảm bảo an toàn cho lực lượng chấp pháp và khống chế được đối tượng vi phạm, hạn chế việc phải sử dụng đến vũ khí chuyên dụng có khả năng sát thương. Đây là nội dung được quy định rõ tại Điều 14, Luật Cảnh sát biển Việt Nam năm 2018.

Công tác thực thi pháp luật trên biển là một quá trình mang tính đặc thù, song cũng chịu tác động của những yếu tố chủ quan và khách quan, việc nắm bắt được những yếu tố đó để tận dụng điểm mạnh và khắc chế điểm yếu là nghiệp vụ cần thiết của lực lượng vũ trang, quyết định mức độ hiệu quả của hoạt động thực thi pháp luật trên biển. Trong đó bao gồm các điều kiện như thời tiết, thiên tai trên biển, điều kiện kinh tế quốc gia, trình độ nhận thức và văn hóa bám biển của cộng đồng người hoạt động trên biển. Các yếu tố chính trị, ngoại giao, pháp lý như tình hình tranh chấp chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán ở Biển Đông, hợp tác và xung đột quốc tế, mức độ hiệu quả của hệ thống văn bản pháp luật, hệ tư tưởng chính trị của các quốc gia, sức mạnh quân sự của các quốc gia, mức độ đầu tư phương tiện, vũ khí, trang thiết bị đáp ứng yêu cầu thực thi nhiệm vụ v.v..

Thực tiễn cho thấy, BPVT có nội dung phong phú, đa dạng và phức tạp. Tùy theo chức năng, nhiệm vụ của lực lượng Cảnh sát biển cũng như âm mưu, phương thức thủ đoạn hoạt động, tính chất mức độ nguy hiểm của các thế lực thù địch, các loại tội phạm khác nhau mà xác định các nội dung sử dụng BPVT cũng khác nhau.

Kết luận

Vùng biển đảo có vai trò quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh bảo vệ Tổ quốc và phát triển kinh tế, để bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ quốc gia, BPVT đã được sử dụng có hiệu quả vừa mềm dẻo vừa cứng rắn, đã tạo kết quả tích cực trong công tác bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia dân tộc ở Biển Đông. Song trước những diễn biến phức tạp của tình hình an ninh biển, các cơ quan chức năng đã tham mưu cho Đảng và Nhà nước về đối sách xử lý tình huống trên biển, chủ động đánh giá, phân tích tình hình, chuẩn bị kịch bản ứng phó với những diễn biến bất ngờ có thể xảy ra. Trong đó công tác xây dựng Cảnh sát biển Việt Nam trở thành lực lượng chính quy, tinh nhuệ, hiện đại là một nội dung quan trọng để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Cùng với việc đầu tư cho con người, mua sắm trang thiết bị, vũ khí, phương tiện nâng cao sức mạnh của Lực lượng Cảnh sát biển, nhà nước cần đẩy nhanh tiến trình phân định biển với các quốc gia có liên quan trong khu vực Biển Đông, nhằm xác định cụ thể ranh giới trên biển rõ ràng, tạo hành lang pháp lý để thuận lợi trong việc sử dụng BPVT trên biển. Các công tác này cần tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế, vận dụng cơ sở pháp lý quốc tế, kinh nghiệm, thực tiễn quốc tế, hệ thống pháp luật quốc gia để thực hiện có hiệu quả.

Trung tá, TS. NGUYỄN THANH MINH
Phòng Khoa học Quân sự/Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. A. T. Mahan (1840 - 1914), Ảnh hưởng của sức mạnh trên biển đối với lịch sử, 1660 - 1783 Nxb. Tri thức, Hà Nội, 2012.

  2. Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 - United Nations Convention on Law of the Sea năm 1982.

  3. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016.

  4. Trần Ngọc Liêu (2013), Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về Nhà nước với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2013.

  5. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khóa XI, Luật An ninh quốc gia, số 32/2004/QH11, 2004.

  6. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khóa XIII, Luật Biển Việt Nam, số 18/2012/QH13, Hà Nội, 2012.

  7. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khóa XIV, Luật Cảnh sát biển Việt Nam, số 33/2018/QH14, Hà Nội, 2018.

 

Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục gửi về banbientapcsb@gmail.com

Các tin liên quan