Phát triển kinh tế biển của Trung Quốc và một số tác động đến Việt Nam

19/11/2025 03:31:00 PM

(Canhsatbien.vn) - 

Các quốc gia có biển đã và đang triển khai khá rầm rộ chiến lược kinh tế biển. Trong cuộc đua tranh chiến lược này, Trung Quốc đã đi trước, đang triển khai rất mạnh và khá bài bản. Điều này tạo ra nhiều cơ hội cùng với những thách thức mới cho phát triển kinh tế biển của Việt Nam.

Vài nét về kinh tế biển của Trung Quốc

Trung Quốc là quốc gia đang phát triển, đông dân nhất thế giới, có nhiều loại tài nguyên thiên nhiên với trữ lượng đứng đầu thế giới, nhưng bình quân đầu người lại thấp hơn của thế giới. Về dài hạn, sự phát triển bền vững của Trung Quốc, ở một chừng mực nào đó được quyết định bởi sự khai thác và sử dụng tài nguyên biển.

Các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc cho rằng, khai thác biển không chỉ là vấn đề khai thác sử dụng tài nguyên biển gần và phát triển kinh tế khu vực ven biển, mà còn phải đề cập đến việc Trung Quốc có khả năng xâm nhập vào vùng biển quốc tế và thực hiện cùng khai thác biển với thế giới. Khai thác biển không chỉ đòi hỏi Trung Quốc phải có khả năng thăm dò khai thác tài nguyên biển sâu, mà còn phải có sức mạnh tổng hợp trên biển để bảo vệ được quyền lợi biển của quốc gia. Sức mạnh đó bao gồm: sức mạnh kinh tế trong đàm phán các vấn đề về biển; sức mạnh quân sự để đối phó với các thách thức trên biển, đồng thời có thể đảm nhận trách nhiệm và nghĩa vụ tương xứng với trình độ phát triển của Trung Quốc trong các vấn đề biển quốc tế. Đây là một tham vọng rất lớn của Trung Quốc, muốn vậy, công nghiệp biển phải đóng vai trò then chốt trong toàn bộ tiến trình này.

Theo công bố của Viện Nghiên cứu Chiến lược Hải dương Trung Quốc, kể từ khi thực hiện Quy hoạch “5 năm lần thứ 11” (2006 - 2010), tốc độ tăng trung bình hằng năm của kinh tế biển Trung Quốc là 13,5%. Kinh tế biển đã trở thành điểm tăng trưởng mới của kinh tế quốc dân. Việc coi trọng phát triển kinh tế biển của các địa phương ven biển tuy ở các mức độ khác nhau, nhưng đó là một trong những động lực quan trọng tạo đà cho tăng trưởng kinh tế quốc dân bằng việc đề ra một số chính sách:

Phát triển các khu kinh tế tự do một cách năng động, sáng tạo

Chính sách mở cửa và cải cách của Trung Quốc được tiến hành trước tiên ở vùng ven biển với ý đồ tận dụng cả lợi thế về địa lí và địa kinh tế. Quá trình mở cửa ven biển được bắt đầu ở miền Nam Trung Quốc, lan tỏa đến phía Bắc Trung Quốc và tiếp tục đến các vùng khác. Các khu kinh tế tự do có vai trò như một cực tăng trưởng cho phát triển kinh tế ở Trung Quốc và là cơ sở thực tiễn cho những thí điểm về công cụ cải cách, chính sách mở cửa của Trung Quốc.

Trải dọc dải duyên hải miền Đông từ Bắc xuống Nam, ba vành đai kinh tế lớn là “Tam giác Châu Giang”, “Tam giác Trường Giang” và “Vành đai quanh Bột Hải” từng bước được hình thành. Đặc điểm chung của các khu kinh tế tự do Trung Quốc là chính sách kinh tế đặc biệt với những mục tiêu kinh tế đặc biệt, ở một khu vực được xác định. Các khu kinh tế tự do này được phân loại thành khu kinh tế tự do tổng hợp, khu kinh tế tự do chế tạo, khu kinh tế tự do khoa học và thương mại, khu kinh tế tự do xuyên biên giới, cùng rất nhiều các dạng khác nhau như: đặc khu kinh tế (SEZ), khu kinh tế và công nghệ (TEDZ), khu phát triển tổng hợp (CDZ), khu công nghệ cao và mới (NHIP), khu thương mại biên giới tự do (FFTZ), các tam giác tăng trưởng (GT), khu chế xuất (EPZ),...

Không những thế, các khu kinh tế tự do của Trung Quốc vẫn đang trong quá trình không ngừng chuyển đổi mô hình hoạt động với các hướng chính như: từ mô hình cửa sổ - cơ sở - cầu nối đến tăng trưởng; từ chính sách ưu đãi sang khai thác “lợi thế kinh tế và cơ cấu toàn diện”; liên kết các khu kinh tế tự do và khu hành chính; chuyển đổi từ phát triển qui mô sang thúc đẩy công nghiệp và hoạt động tài chính; chuyển đổi từ nền kinh tế hướng ra bên ngoài sang nền kinh tế mở; chuyển đổi từ ngành sử dụng nhiều lao động sang ngành có hàm lượng công nghệ cao; chuyển đổi từ hợp tác trong nước sang hợp tác xuyên biên giới, xuyên quốc gia...

Với ý nghĩa đó, có thể hiểu được rằng, các khu kinh tế tự do trải dọc theo dải ven biển Trung Quốc được hình thành với tư cách là nền tảng vật chất của công cuộc cải cách mở cửa ở Trung Quốc những năm qua, đến lượt nó, đã và đang phát huy vai trò là động lực cho thực thi chiến lược kinh tế biển của Trung Quốc hiện nay và những năm tiếp theo.

Đẩy mạnh chiến lược khai thác Biển Đông
Biển Đông là 1 trong 5 bồn trũng chứa dầu khí lớn nhất thế giới. Ở Biển Đông còn có loại tài nguyên giá trị gọi là “băng cháy”, được coi là nguồn năng lượng thay thế dầu khí trong tương lai gần. Đặc biệt, Biển Đông nằm trên tuyến đường giao thông biển huyết mạch nối liền Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương, châu Á - châu Âu, Trung Đông - châu Á, là đường vận tải quốc tế nhộn nhịp thứ hai của thế giới. Hơn 90% lượng vận tải thương mại của thế giới thực hiện bằng đường biển và 45% trong số đó phải đi qua vùng Biển Đông. Trung Quốc có 29/39 tuyến đường hàng hải và khoảng 60% lượng hàng hóa xuất nhập khẩu, 70% lượng dầu mỏ nhập khẩu được vận chuyển bằng đường biển qua Biển Đông.

Những năm qua, Trung Quốc tập trung khá nhiều cho công việc hoạch định chiến lược biển, đặc biệt là chiến lược khai thác Biển Đông. Từ chiến lược khai thác Biển Đông, Trung Quốc đã tiến tới xây dựng quy hoạch phát triển kinh tế Biển Đông (Trung ương có chiến lược và quy hoạch kinh tế biển toàn quốc, địa phương, đặc biệt là các tỉnh ven biển cũng đều có riêng các chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế biển).

Đáng chú ý nhất là “Chiến lược một trục hai cánh” của Trung Quốc. Đây là chiến lược hợp tác Tiểu vùng Trung Quốc - ASEAN, gồm: “Trục chiến lược” là tuyến đường kết nối Thâm Quyến - Chu Hải - Quảng Ninh - Hà Nội - Đà Nẵng - Thành phố Hồ Chí Minh - Phnom Penh - Bangkok - Kuala Lumpur. Trục này tập trung phát triển và khai thác vận tải đường bộ, đường sắt, đường hàng không, kèm theo tập trung đầu tư phát triển kinh tế, thương mại, du lịch, khai thác khoáng sản. Cánh một là “Cánh phía Tây”, được coi là “Cánh nguyên liệu” hoặc “Cánh xanh”, bao gồm một số tỉnh của Campuchia, Lào, Thái Lan và đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam, lấy nông nghiệp, khai khoáng, điện... làm trọng điểm ưu tiên phát triển, vận hành theo khuôn khổ “Hợp tác Tiểu vùng sông Mê Công”. Cánh hai là “Cánh phía Đông”, được gọi là “Cánh nhiên liệu” hoặc “Cánh năng lượng”, bao gồm các tỉnh nằm trong khu vực Vịnh Bắc Bộ của Trung Quốc, Việt Nam và một phần lãnh thổ của các quốc gia tiếp giáp với Biển Đông. Cánh hai tập trung khai thác các nguồn lợi về dầu khí, hải sản và vận tải biển, được vận hành theo khuôn khổ “Hợp tác Tiểu vùng Vịnh Bắc Bộ mở rộng”. Trong khuôn khổ “Hợp tác Tiểu vùng Vịnh Bắc Bộ mở rộng”, Trung Quốc đã xây dựng Khu kinh tế Vịnh Bắc Bộ Quảng Tây làm hạt nhân và nền tảng của chiến lược này. Khu kinh tế Vịnh Bắc Bộ Quảng Tây có nguồn tài nguyên bến cảng, tài nguyên du lịch, tài nguyên sinh vật biển, khoáng sản, động thực vật, dung lượng môi trường lớn, đất đai rộng rãi, tiềm năng phát triển lớn, có thể tạo nguồn lực mới cho khu kinh tế này cất cánh.

Ngày 19/01/2008, Quốc Vụ viện Trung Quốc phê chuẩn thực hiện “Quy hoạch Phát triển Khu kinh tế Vịnh Bắc Bộ Quảng Tây”. Khu kinh tế này được thiết kế theo mô hình “một trung tâm (thành phố Nam Ninh), ba thành phố cảng (Bắc Hải, Khâm Châu, Phòng Thành) và hai thành phố vệ tinh (Ngọc Lâm, Sùng Tà)”, tạo nên một cấu trúc kinh tế mạnh hướng ra Vịnh Bắc Bộ, Biển Đông và Thái Bình Dương. Mục tiêu tổng thể là lấy xây dựng bến cảng làm đầu tàu, lấy phát triển công nghiệp ven biển làm trọng điểm, lấy xây dựng cơ sở hạ tầng làm đảm bảo, lấy dải các đô thị làm chỗ dựa, lấy phát triển đổi mới làm động lực, ra sức phấn đấu trong thời kì “5 năm lần thứ 11”, làm cho cơ sở hạ tầng toàn vùng tương đối hoàn thiện, cảng biển có sức cạnh tranh tổng hợp mạnh, bố cục ngành nghề nhất thể hóa từng bước hình thành. Sau đó, qua các năm phấn đấu tiếp theo, cuối cùng xây dựng vùng này thành dải đô thị liên hoàn có ảnh hưởng lớn nhất vùng Tây Nam Trung Quốc, trở thành trung tâm chế tạo, doanh vận, ngoại thương, thông tin, tiền tệ và giao lưu văn hóa trong khu mậu dịch tự do Trung Quốc - ASEAN.

Khu kinh tế Vịnh Bắc Bộ Quảng Tây có các trọng điểm sau đây đã và đang được xây dựng theo phương châm “Bốn đẩy mạnh”.

Thứ nhất, đẩy mạnh xây dựng các tổ hợp cảng lớn ven biển. Ngày 25/05/2007, tỉnh Quảng Tây đã đồng loạt khởi công xây dựng 9 cảng nước sâu tại 3 thành phố Bắc Hải, Khâm Châu, Phòng Thành. Đến nay, cảng Phòng Thành đã có 15 bến nước sâu đón tàu hàng vạn tấn và vẫn tiếp tục nâng cấp, mở rộng; cảng Bắc Hải có 4 bến nước sâu công suất 4 triệu tấn/năm, đã hoàn thành bến cập tàu container trọng tải 50.000 tấn; cảng Khâm Châu đã xây dựng 9 cầu cảng đón tàu hàng vạn tấn, công suất 50 triệu tấn/năm.

Thứ hai, đẩy mạnh xây dựng dải đô thị Nam Ninh - Khâm Châu - Phòng Thành. Đồng thời, khắc phục những rào trở ngại thị trường, thúc đẩy tự do lưu thông các yếu tố sản xuất trên cơ sở thị trường. Ra sức xây dựng Khu kinh tế Vịnh Bắc Bộ Quảng Tây trở thành thành phố công nghiệp hiện đại, lấy Nam Ninh, Khâm Châu, Phòng Thành làm trung tâm, lấy các huyện và thị trấn xoay quanh làm vệ tinh, phân công hợp lí, bổ sung chức năng cho nhau, phối hợp phát triển kinh tế, chính trị và văn hóa, hình thành dải đô thị có sức ảnh hưởng lớn ở phía Đông Nam Trung Quốc.

Thứ ba, đẩy mạnh việc cơ cấu lại các ngành nghề. Theo đó, tỉnh Quảng Tây được chia thành 5 đại tổ hợp kinh tế, trọng tâm là các tổ hợp phục vụ hợp tác kinh tế biển, gồm: Đại tổ hợp Nam Ninh: xây dựng Nam Ninh thành một thành phố mang tính quốc tế và khu vực, trở thành đầu nút giao thông trọng yếu giữa Trung Quốc và ASEAN, đồng thời là trung tâm thương mại và thông tin cho cả vùng; Đại tổ hợp Khâm Châu, Phòng Thành: tập trung phát triển kinh tế, công nghiệp biển và ven biển, gia công các sản phẩm công nghiệp, vận tải cảng biển; đại tổ hợp Bắc Hải: phát triển du lịch biển và du lịch quốc tế; Đại tổ hợp Thích Sơn (Long Đàm): phát triển các ngành gia công phụ cận cho khu vực cảng biển; đại tổ hợp Đông Hưng, Bằng Tường: phát triển kinh tế ven biển, gia công sản phẩm công nghiệp biên giới, xây dựng thành nơi trung chuyển hàng hóa quốc tế, đồng thời phát triển ngành du lịch biên giới.

Thứ tư, đẩy mạnh xây dựng cơ sở hạ tầng ven biển. Quy hoạch tuyến đường cao tốc Khu Kinh tế Vịnh Bắc Bộ đi ra biển gồm 6 tuyến đường, hiện đã hoàn thành. Cảng Vịnh Bắc Bộ Quảng Tây hiện có 46 cầu tàu trên 10 nghìn tấn, hợp tác vận chuyển thương mại với hơn 200 cảng biển của hơn 100 nước và vùng lãnh thổ, chiếm hơn 35% tỷ trọng hàng hóa bốc dỡ của khu vực ven biển Tây Nam Trung Quốc. Đồng thời, về cơ bản Trung Quốc đã hoàn thành hệ thống đường bộ cao tốc, đường sắt hiện đại, các sân bay, cảng hàng không cùng cơ sở hậu cần, kỹ thuật ở các tỉnh thuộc Vịnh Bắc Bộ của Trung Quốc để sẵn sàng đưa vào khai thác.

Theo các chuyên gia, Khu kinh tế Vịnh Bắc Bộ Quảng Tây được xem là điển hình của những bước đi trong Chiến lược Kinh tế biển của Trung Quốc, với những động thái nổi bật sau:

Một là, đã và đang hình thành các trung tâm kinh tế biển mạnh, qui mô lớn, có sức thu hút và lan tỏa lớn. Để có được điều này, Trung Quốc đã có những bước đi bài bản từ quy hoạch, quản lí, thu hút đầu tư, đến việc phát dương sức mạnh của nó khi đưa vào vận hành.

Hai là, hình thành các doanh nghiệp biển hiện đại. Các ngành/doanh nghiệp kinh tế biển của Trung Quốc phát triển nhanh theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, sức cạnh tranh cao, đã và sẽ tăng cường lan tỏa các hoạt động sang các quốc gia láng giềng.

Ba là, công nghệ khai thác biển của Trung Quốc phát triển khá năng động. Trung Quốc chủ trương thúc đẩy nhanh việc tự nghiên cứu, chế tạo các phương tiện phục vụ cho hoạt động dầu khí ở khu vực biển sâu, trong đó tập trung phát triển 6 loại phương tiện chính là: Giàn khoan dầu khí biển sâu; tàu đặt ống dầu khí biển sâu; tàu khảo sát địa chấn biển sâu; tàu thăm dò dầu khí biển sâu; tàu công trình đa năng; tàu công trình tự hành kiểu nửa chìm. Đến nay, Trung Quốc đã cơ bản tự thiết kế, chế tạo thành công các phương tiện phục vụ cho hoạt động dầu khí ở những vùng biển nước sâu từ 1.500 m đến 3.000 m.

Bốn là, sự hỗ trợ mạnh mẽ của Nhà nước đối với kinh tế biển, dưới nhiều hình thức như phân cấp quản lí, cho phép các khu kinh tế biển được áp dụng thể chế hiện đại, quy hoạch phát triển, hỗ trợ tài chính, sử dụng các tập đoàn kinh tế nhà nước, chính sách tiền tệ, chính sách thương mại, quân sự, ngoại giao, nhằm tăng cường năng lực cho các doanh nghiệp khai thác biển.

Một số tác động đến Việt Nam 

Việc Trung Quốc đẩy mạnh phát triển kinh tế biển, trong đó trực tiếp nhất là Khu kinh tế Vịnh Bắc Bộ Quảng Tây, đang tạo ra những cơ hội và thách thức mới cho phát triển kinh tế biển của Việt Nam. Theo đó, sẽ xuất hiện hàng loạt cơ hội mới cho sự hợp tác kinh tế, nâng cao hiệu quả hoạt động, tiếp thu và đổi mới công nghệ, mở rộng thị trường... khi kinh tế biển của Việt Nam có sự phát triển năng động, sẽ góp phần gia tăng sức hấp dẫn, thu hút các nguồn lực kinh tế trên thế giới vào khu vực này, tăng sức cạnh tranh, đẩy lùi các yếu tố tiêu cực. Tuy nhiên, vào ngày 9/8/2021, lần đầu tiên Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc tổ chức một cuộc họp chính thức riêng về chủ đề an ninh biển cho thấy sự thách thức trên Biển Đông ngày càng gia tăng. Xét dưới góc độ kinh tế, Việt Nam có thể phải đối mặt với những thách thức đó là:

Một là, với mục tiêu chiến lược “đi ra ngoài” của Trung Quốc, các khoản đầu tư của Trung Quốc tại Việt Nam chủ yếu thực hiện mục tiêu khai thác nguồn lực tài nguyên, nhất là tài nguyên biển để phục vụ quá trình phát triển bên trong của Trung Quốc. Cùng với đó là chiến lược các dự án tổng thầu làm sâu sắc thêm sự phụ thuộc kinh tế của Việt Nam vào Trung Quốc. Chiến lược này của Trung Quốc đã tạo ra những tác động rất tiêu cực đối với nền kinh tế biển Việt Nam. Cùng với đó, các trung tâm kinh tế biển của Trung Quốc, nhất là Khu kinh tế Vịnh Bắc Bộ Quảng Tây, với sức hấp dẫn lãnh thổ cao của nó, khả năng thu hút mạnh nguồn vốn đầu tư quốc tế, từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến dòng vốn quốc tế đầu tư vào Việt Nam trong thời gian tới.

Hai là, đang dần xuất hiện một sự phân công lao động quốc tế trên dải ven biển phía Tây Biển Đông theo hướng lấy Khu kinh tế Vịnh Bắc Bộ Quảng Tây làm trung tâm, tập trung ở đó các ngành nghề then chốt, có giá trị gia tăng cao, hàm lượng công nghệ cao, đẩy các vùng kinh tế của Việt Nam vào vị trí cấp hai. Có thể xuất hiện một làn sóng mới về chuyển dịch các doanh nghiệp công nghệ thấp và “lắp ráp” từ Trung Quốc vào các vùng ven biển Việt Nam. Điều này vừa gây bất ổn về kinh tế, vừa gây bất ổn về quốc phòng, an ninh đối với nước ta. Một trong các mục tiêu của chiến lược “Một trục, hai cánh” là rút ngắn khoảng cách phát triển của các tỉnh phía Tây Nam Trung Quốc với các vùng khác trên cả nước; khai thông quan hệ thương mại, đầu tư, du lịch của cả khu vực với Đông Nam Á và các khu vực khác, với mục tiêu đưa vùng Tây Nam còn rất lạc hậu tiến ra biển qua con đường hợp tác kinh tế Vịnh Bắc Bộ - Quảng Tây.

Ba là, sự gắn kết, liên kết giữa các doanh nghiệp, giữa các khu kinh tế ven biển Việt Nam có thể sẽ bị ảnh hưởng bởi “sức hút” của các doanh nghiệp, khu kinh tế ven biển Trung Quốc, tạo cơ sở, điều kiện quan trọng để Trung Quốc thực hiện chiến lược “đại khai phát miền Tây”. Vân Nam và Quảng Tây là hai trong số các địa phương thuộc miền Tây của Trung Quốc, có trình độ phát triển kinh tế còn thấp kém so với các tỉnh, thành phố ven biển của Trung Quốc, vì vậy Trung Quốc thông qua vị trí của Việt Nam để đưa các địa phương này hưởng các nguồn lợi từ Biển Đông.

Bốn là, Việt Nam có nguy cơ trở thành nơi cung cấp nguồn nguyên liệu, nhiên liệu và nông sản thô cho thị trường Trung Quốc, đồng thời là nơi tiêu thụ hàng tiêu dùng giá rẻ, nhập khẩu nguyên phụ liệu, hàng chế tạo điện và điện tử, linh phụ kiện do các ngành chế tạo của Trung Quốc cung cấp. Không thể không tính đến tình huống kinh tế biển tác động không tốt đến nền kinh tế quốc dân, bởi thực tế thời gian qua cho thấy mỗi dự án đầu tư của Trung Quốc thường đi kèm với các thiết bị, máy móc của Trung Quốc, bất kể Việt Nam có khả năng cung ứng hay không, dẫn tới các doanh nghiệp sản xuất máy móc trong nước bị cạnh tranh và thua ngay trên sân nhà; bên cạnh đó, việc các doanh nghiệp ồ ạt nhập hàng hóa tiêu dùng từ Trung Quốc phục vụ các dự án đầu tư còn góp phần bóp nghẹt các doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng ở Việt Nam.

Khai thác biển đang trở thành một trong những yếu tố quyết định sự phát triển nhanh và bền vững của các quốc gia có biển. Những bước đi chiến lược của Trung Quốc trong tiến trình triển khai chiến lược biển đã và tiếp tục tác động rất lớn đến chiến lược phát triển kinh tế biển của các nước xung quanh, trong đó có Việt Nam. Do vậy, vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của các khu kinh tế biển của Việt Nam đang đặt ra vừa cấp thiết vừa cơ bản lâu dài, đòi hỏi những bước đi phù hợp, tận dụng hiệu quả các cơ hội và lợi thế vốn có, triển khai có hiệu quả Chiến lược Phát triển bền vững kinh tế biển để khai thác bền vững, có trách nhiệm các nguồn lợi từ biển phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Đại tá, TS. NGỌ VĂN DUY; Thiếu tá ThS. NGUYỄN THỊ NGA
Trường Sĩ quan Lục quân 2

Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục gửi về banbientapcsb@gmail.com

Các tin liên quan