Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá chất lượng công tác kỹ thuật thời bình của các BTL Vùng Cảnh sát biển

22/11/2025 02:25:00 PM

(Canhsatbien.vn) - 

Những năm qua, tình hình thế giới, khu vực, nhất là tình hình Biển Đông diễn biến phức tạp, khó lường, xuất hiện nhiều tình huống mới về các vấn đề an ninh truyền thống và phi truyền thống. Nhiệm vụ của Lực lượng Cảnh sát biển nói chung, các Bộ Tư lệnh (BTL) Vùng Cảnh sát biển nói riêng, ngày càng nặng nề, phức tạp. Để các BTL Vùng Cảnh sát biển thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao, cần phải làm tốt các mặt công tác, trong đó có công tác kỹ thuật (CTKT). Thời gian qua, các Vùng Cảnh sát biển đã có nhiều cố gắng trong tổ chức thực hiện CTKT và bảo đảm kỹ thuật (BĐKT) cho các đợt tuần tra, kiểm soát, thực thi pháp luật trên biển. Tuy nhiên, do một số nguyên nhân, CTKT có mặt còn hạn chế, chất lượng chưa cao. Để có cơ sở đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng CTKT và đánh giá chất lượng CTKT thời bình của các BTL Vùng Cảnh sát biển, cần xây dựng bộ tiêu chí đánh giá chất lượng, bao gồm: tiêu chí về mức độ hoàn thành các nội dung CTKT; tiêu chí về xây dựng, củng cố hệ thống tổ chức ngành kỹ thuật; tiêu chí về xây dựng lực lượng kỹ thuật; tiêu chí về an toàn trong thực hiện CTKT và an toàn giao thông.

Trung tướng Nguyễn Trọng Bình - Phó Tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam kiểm tra công tác kỹ thuật trên tàu CSB 8004. Ảnh: Đức Hạnh

Kết quả nghiên cứu

Theo [2], thuật ngữ “chất lượng” được hiểu là “cái làm nên phẩm chất, giá trị của một sự vật, sự việc”. Theo quan điểm của Tổ chức Tiêu chuẩn hóa quốc tế (ISO): “Chất lượng là mức độ đáp ứng yêu cầu của một tập hợp các đặc

tính vốn có”. Theo quan điểm Học thuyết Mác - Lênin, “chất lượng là phạm trù triết học biểu thị những thuộc tính bản chất của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định tương đối của sự vật để phân biệt nó với các sự vật khác”. Như vậy, “chất lượng” phản ánh thuộc tính đặc trưng giá trị, phẩm chất của sự vật và tạo nên sự khác biệt giữa sự vật này với sự vật khác về chất.

Theo [1], CTKT trong Quân đội nhân dân Việt Nam là một mặt công tác quân sự; được tiến hành dưới sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng và sự chỉ huy của thủ trưởng các cấp. Chủ nhiệm kỹ thuật chịu trách nhiệm trước cấp ủy Đảng và người chỉ huy về chỉ đạo và tổ chức thực hiện CTKT. Nội dung CTKT bao gồm: (1) Bảo đảm trang bị; (2) Bảo đảm kỹ thuật cho trang bị; (3) Huấn luyện kỹ thuật; (4) Hoạt động khoa học, công nghệ, môi trường và thông tin khoa học kỹ thuật quân sự; (5) Quản lý kỹ thuật; (6) Động viên kỹ thuật.

Từ khái niệm chất lượng và khái niệm CTKT ở trên có thể quan niệm: Chất lượng CTKT thời bình của BTL Vùng Cảnh sát biển là tổng hợp các đặc tính tạo nên giá trị CTKT thời bình của BTL Vùng Cảnh sát biển nhằm thỏa mãn các nhu cầu về kỹ thuật bảo đảm cho đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ trong mọi tình huống.

Nhiệm vụ CTKT thời bình của BTL Vùng Cảnh sát biển là làm cho vũ khí trang bị kỹ thuật (VKTBKT) luôn đủ, tốt và đồng bộ, nhằm bảo đảm cho các lực lượng trong đơn vị hoàn thành các nhiệm vụ: huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, tuần tra, kiểm soát, thực thi pháp luật trên biển.

Tiêu chí là mức định ra nhằm đạt tới trong một kế hoạch công tác hoặc là mức biểu hiện của một đặc điểm, một chức năng của một tổ chức. Tiêu chí không chỉ được dùng để đánh giá chất lượng một công việc, một quá trình nào đó, mà còn có ý nghĩa đảm bảo chất lượng công việc, quá trình đó như mong muốn. Bộ Tiêu chí đánh giá chất lượng CTKT thời bình của BTL Vùng Cảnh sát biển được xây dựng để đánh giá chất lượng CTKT thời bình và để đảm bảo chất lượng CTKT như mong muốn, bao gồm các tiêu chí sau đây:

1. Tiêu chí về mức độ hoàn các nội dung CTKT

CTKT của BTL Vùng Cảnh sát biển gồm nhiều nội dung. Tiêu chí đánh giá chất lượng CTKT đối với BTL Vùng Cảnh sát biển phải xem xét trên tất cả các nội dung đó. Bài báo đề xuất các tiêu chí cơ bản theo các nội dung CTKT của BTL Vùng Cảnh sát biển như sau:

Tiêu chí về bảo đảm trang bị

Yêu cầu cần đạt được đối với bảo đảm trang bị (BĐTB) là bảo đảm đúng, đủ, đồng bộ trang bị cho các nhiệm vụ. Phải thường xuyên căn cứ vào nhu cầu trang bị thực hiện các nhiệm vụ của đơn vị để có kế hoạch bảo đảm kịp thời, đầy đủ về số lượng, tốt về chất lượng và đồng bộ các loại VKTBKT.

Khả năng BĐTB được đánh giá thông qua hệ số bảo đảm (Kbđ):

Kbđ = Nhc / Nnc (2.1)

Trong đó: Kbđ - hệ số bảo đảm VKTBKT; Nhc - số VKTBKT hiện có của BTL Vùng Cảnh sát biển (trừ cấp 5); Nnc - số VKTBKT cần có theo nhu cầu sử dụng của BTL Vùng Cảnh sát biển.

Thông qua hệ số bảo đảm (Kbđ), biết được VKTBKT thừa, thiếu so với nhu cầu sử dụng để có kế hoạch bổ sung, điều chỉnh. Nếu VKTBKT thừa, đề nghị cấp trên thu hồi về kho hoặc điều chuyển cho đơn vị thiếu. Nếu VKTBKT thiếu, kiến nghị cấp trên bổ sung đủ theo biên chế và theo nhu cầu sử dụng.

Để xem xét mức độ BĐTB của từng loại VKTBKT, có thể dùng công thức:

Kbđi = Nhci / Nnci (2.2)

Trong đó: Kbđi - hệ số BĐTB loại i; Nhci - số trang bị loại i hiện có của BTL Vùng Cảnh sát biển (trừ cấp 5); Nnci - số trang bị loại i cần có theo nhu cầu sử dụng của BTL Vùng Cảnh sát biển.

Thường dùng công thức (2.2) để biết chính xác từng loại trang bị thừa, thiếu, từ đó cân đối khả năng bảo đảm.

Trong kế hoạch CTKT năm của đơn vị, cần xác định Kbđ cho các nhiệm vụ trọng tâm, gồm: BĐTB cho nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, tuần tra, kiểm soát thực thi pháp luật trên biển.... Hệ số bảo đảm phải luôn bằng 1 (Kbđ = 1). Hệ số BĐTB tính cho nhiệm vụ huấn luyện, hoạt động thường xuyên phải theo yêu cầu trong chỉ lệnh CTKT hằng năm của BTL Cảnh sát biển và yêu cầu của Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển.

Tiêu chí về BĐKT cho trang bị

Khi xác định nội dung BĐKT cho trang bị phải căn cứ vào các yếu tố: Nhiệm vụ của đơn vị; Chỉ lệnh CTKT của cấp trên; Tình trạng kỹ thuật của từng loại VKTBKT; Thực trạng nhân lực kỹ thuật; Nguồn vật tư, kinh phí cho bảo quản, bảo dưỡng, sửa chữa,... định mức tiêu hao dự trữ kỹ thuật của mỗi loại VKTBKT; Điều lệ CTKT, Điều lệ Công tác Tham mưu kỹ thuật QĐND Việt Nam và quy định của các chuyên ngành kỹ thuật.

Để VKTBKT phục vụ tốt nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, tuần tra, kiểm soát, thực thi pháp luật trên biển cũng như các nhiệm vụ khác, phát huy được tính năng, tác dụng, độ tin cậy, nội dung công tác BĐKT cho trang bị bao gồm: chuẩn bị sử dụng; bảo quản; bảo dưỡng kỹ thuật; niêm cất; tăng hạn sử dụng, sửa chữa VKTBKT.

Chất lượng BĐKT cho trang bị được phản ánh qua hệ số kỹ thuật (Kt) của trang bị. Hệ số kỹ thuật của VKTBKT loại i được tính như sau:

Kti = Nti / Nhci (2.3)

Trong đó: Kti - hệ số kỹ thuật của VKTBKT loại i; Nti - số VKTBKT loại i tốt của BTL Vùng Cảnh sát biển; Nhci - số VKTBKT loại i hiện có của BTL Vùng Cảnh sát biển.

Hệ số kỹ thuật của VKTBKT làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, tuần tra kiểm soát thực thi pháp luật trên biển phải đạt bằng 1, của VKTBKT làm nhiệm vụ huấn luyện, hoạt động thường xuyên theo yêu cầu trong Chỉ lệnh CTKT hằng năm của BTL Cảnh sát biển và theo yêu cầu của Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển.

Tiêu chí về huấn luyện kỹ thuật

Huấn luyện kỹ thuật (HLKT) là một nội dung của CTKT, đồng thời là một bộ phận của huấn luyện chiến đấu, là tập hợp các hoạt động giảng dạy (hướng dẫn), học tập về CTKT của cán bộ, nhân viên, chiến sĩ làm CTKT của BTL Vùng Cảnh sát biển nhằm hình thành, củng cố, mở rộng, nâng cao hiểu biết và năng lực tổ chức thực hiện CTKT.

Khi tổ chức HLKT phải hiệp đồng chặt chẽ giữa các cấp, các ngành và chuẩn bị chu đáo về nội dung, công tác bảo đảm; phải nghiêm túc thực hiện kế hoạch đã được phê duyệt. Nội dung huấn luyện phải sát với thực tế, phù hợp với từng đối tượng và đặc điểm biên chế VKTBKT trong đơn vị, bám sát hướng dẫn HLKT hằng năm của Cục Kỹ thuật, BTL Cảnh sát biển.

Hằng năm, đơn vị phải tổ chức tập huấn cho cán bộ chỉ huy, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan vào đầu giai đoạn huấn luyện. Trong chương trình tập huấn phải có nội dung huấn luyện trang bị mới, điều lệnh, điều lệ, chế độ, quy định (những nội dung thay đổi); huấn luyện về Luật Giao thông đường bộ, công tác vệ sinh, an toàn lao động, phòng, chống cháy nổ. Phải tổ chức hội thi, hội thao kỹ thuật, diễn tập theo định kỳ tại đơn vị và tham gia đầy đủ hội thi, hội thao kỹ thuật, diễn tập do cấp trên tổ chức. Người chỉ huy phải chủ trì tổ chức huấn luyện nói chung, HLKT nói riêng. Tổ giáo viên gồm các đồng chí đã được đi tập huấn, có kinh nghiệm tại đơn vị hoặc mời giáo viên của cơ quan kỹ thuật cấp trên, các học viện, nhà trường trong Quân đội. Phải tổ chức HLKT cho tất cả các đối tượng. Kết quả HLKT hằng năm phải 100% đạt yêu cầu, trong đó có 70% đạt khá giỏi...

Tiêu chí về hoạt động khoa học, công nghệ, môi trường và thông tin khoa học kỹ thuật quân sự

Tiêu chí về hoạt động khoa học, công nghệ, môi trường:

Áp dụng có hiệu quả các kết quả nghiên cứu khoa học do Cục Kỹ thuật, BTL Cảnh sát biển phổ biến.

Hằng năm phải có các đề tài khoa học, sáng kiến, cải tiến kỹ thuật có giá trị được nghiệm thu, công nhận và đem áp dụng vào CTKT của đơn vị (chỉ tiêu cụ thể về số lượng, chất lượng các đề tài khoa học, sáng kiến, cải tiến kỹ thuật được thể hiện trong kế hoạch CTKT hằng năm).

Giữ gìn môi trường trong đơn vị và trong khu vực đóng quân luôn xanh, sạch, đẹp. Đồng thời, vận động Nhân dân trong khu vực đóng quân giữ môi trường luôn trong sạch, không bị ô nhiễm.

Tiêu chí về thông tin khoa học kỹ thuật quân sự:

Tiếp nhận và phổ biến kịp thời cho các đối tượng trong đơn vị thông tin về khoa học kỹ thuật quân sự do cấp trên triển khai;

Báo cáo kịp thời lên Cục Kỹ thuật, BTL Cảnh sát biển các thông tin thay đổi đột biến về chất lượng VKTBKT và kinh nghiệm CTKT của đơn vị mình để rút kinh nghiệm trong toàn Lực lượng và toàn quân.

Tiêu chí về quản lý kỹ thuật

Quản lý chặt chẽ VKTBKT hiện có của đơn vị cả về số lượng, chất lượng, đồng bộ thông qua hệ thống sổ sách đăng ký thống kê.

Phải có đủ các đầu sổ sách đăng ký thống kê, mẫu biểu báo cáo theo quy định của các chuyên ngành kỹ thuật. Khuyến khích ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý VKTBKT.

Phải ghi chép, cập nhật đầy đủ, kịp thời số liệu về VKTBKT theo quy định.

Quản lý chặt chẽ cả về số lượng và chất lượng cán bộ, nhân viên kỹ thuật, nếu có sự biến động, cần đề xuất với cấp ủy, chỉ huy các cấp để kiện toàn kịp thời.

Phải có đầy đủ các cơ sở kỹ thuật như trạm sửa chữa tổng hợp, kho vũ khí, kho đạn, kho VKTBKT, kho vật tư kỹ thuật, tủ súng đúng quy cách theo quy định của ngành Kỹ thuật. Tại các kho phải có hệ thống chống sét, chống cháy nổ theo quy định của ngành Kỹ thuật.

Thực hiện đầy đủ các mục tiêu Cuộc vận động “Quản lý, khai thác VKTBKT tốt, bền, an toàn, tiết kiệm và an toàn giao thông”; định kỳ sơ kết, rút kinh nghiệm theo quy định.

2. Tiêu chí về xây dựng, củng cố hệ thống tổ chức ngành kỹ thuật

Xây dựng, củng cố hệ thống cơ quan kỹ thuật

Hệ thống cơ quan kỹ thuật (cán bộ kỹ thuật) các cấp phải được xây dựng đầy đủ từ cấp vùng, hải đoàn đến cấp cơ sở (hải đội, tàu…) và phải được củng cố, kiện toàn thường xuyên đúng, đủ biên chế, cơ cấu tổ chức.

Cơ quan kỹ thuật các cấp phải có cơ chế hoạt động phù hợp, đúng quy định của Điều lệ CTKT QĐND Việt Nam, hoạt động có nền nếp, chính quy, hiệu lực, hiệu quả.

Xây dựng, củng cố hệ thống cơ sở kỹ thuật

Hệ thống cơ sở kỹ thuật phải được xây dựng đầy đủ theo quy định và phải được củng cố thường xuyên, bao gồm: kho VKTBKT, kho đạn dược, kho vật tư kỹ thuật, trạm sửa chữa tổng hợp (tùy theo từng cấp).

Các cơ sở kỹ thuật phải hoạt động có hiệu quả, chất lượng, không để lãng phí về diện tích cũng như trang thiết bị.

3. Tiêu chí về xây dựng lực lượng kỹ thuật

Xây dựng đội ngũ cán bộ kỹ thuật

Đội ngũ cán bộ kỹ thuật phải được xây dựng và thường xuyên kiện toàn đúng, đủ thành phần, cơ cấu (trình độ, năng lực, chuyên ngành, độ tuổi) theo biên chế thời bình và có nguồn để bổ sung theo biên chế thời chiến.

Định kỳ phải được cử đi đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng các mặt: Trách nhiệm chính trị, ý chí chiến đấu, tinh thần yêu nước, yêu Chủ nghĩa xã hội; Đường lối quân sự của Đảng, kiến thức về quân sự; Kiến thức chuyên môn kỹ thuật, chiến thuật ngành kỹ thuật; Kiến thức ngoại ngữ, công nghệ thông tin; Chức trách, nhiệm vụ của cán bộ kỹ thuật trong CQKT và CSKT.

Xây dựng đội ngũ nhân viên kỹ thuật

Đội ngũ nhân viên kỹ thuật phải được xây dựng và thường xuyên kiện toàn đúng, đủ thành phần, cơ cấu (trình độ, tay nghề, chuyên ngành, độ tuổi) theo biên chế thời bình và có nguồn để bổ sung theo biên chế thời chiến.

Thường xuyên được bồi dưỡng nâng cao tay nghề, trình độ chuyên môn theo lĩnh vực công tác, trách nhiệm chính trị, ý thức, đạo đức nghề nghiệp…

4. Tiêu chí về an toàn trong thực hiện CTKT và an toàn giao thông

Các kế hoạch công tác, lao động sản xuất của đơn vị phải thể hiện đầy đủ yêu cầu, nội dung, biện pháp bảo đảm an toàn cho cán bộ, chiến sĩ trong quá trình tổ chức thực hiện. Tuyệt đối tuân thủ nghiêm các quy tắc an toàn trong quản lý, khai thác VKTBKT, tránh gây thương tích cho người và hư hỏng VKTBKT, cụ thể:

An toàn về điện

Thường xuyên đảm bảo an toàn hành lang đường dây tải điện, cầu dao, aptomat, cầu chì, công tắc, ổ cắm; nối đất, nối trung tính vỏ thiết bị điện.

Thực hiện nghiêm các quy định về an toàn trong sử dụng điện, nhất là việc đấu nối điện di động phục vụ tăng gia sản xuất, chiếu sáng, sửa chữa cơ động...

Tuyệt đối không đấu nối dây dẫn điện vào các nhà kho vũ khí, đạn.

Có biển báo khu vực có điện, khu vực nguy hiểm liên quan đến nguồn điện.

An toàn chống sét

Định kỳ phổ biến các hiện tượng sét đánh, cách phòng, chống sét cho toàn thể cán bộ, chiến sĩ.

Có đầy đủ hệ thống chống sét đánh thẳng, chống sét cảm ứng tĩnh điện, cảm ứng điện từ cho các công trình nhà ở, kho kỹ thuật, trạm sửa chữa.

Định kỳ mỗi năm đo điện trở 01 lần cho các cột chống sét. Sau khi đo phải ghi thông số vào biển treo trên cột chống sét. Biển ghi kết quả kiểm tra hệ thống chống sét được làm bằng tôn hoặc thép tấm, kích thước 24cm x 20cm, nếu thép đen phải sơn chống gỉ, nền màu đỏ, chữ và đường kẻ màu trắng.

Thường xuyên bảo dưỡng hệ thống chống sét của các công trình.

An toàn phòng chống cháy, nổ

Chuẩn bị đầy đủ phương án, lực lượng, phương tiện và các điều kiện cần thiết khác để sẵn sàng xử trí tình huống cháy, nổ kịp thời, hiệu quả;

Mọi hoạt động phòng cháy, chữa cháy trước hết phải được thực hiện, giải quyết bằng lực lượng và phương tiện tại chỗ.

Các công việc cụ thể tại đơn vị phải thực hiện:

Xây dựng kế hoạch phòng, chống cháy nổ trình người chỉ huy phê duyệt;

Tổ chức huấn luyện và luyện tập phòng chống cháy nổ một năm ít nhất hai lần;

Cắt cử kíp trực phòng, chống cháy nổ trực 24/24 giờ hằng ngày;

Trang bị đầy đủ bình chữa cháy, dụng cụ chữa cháy theo quy định;

Mọi cán bộ, chiến sĩ phải hiểu nguyên lý hoạt động và sử dụng thành thạo bình chữa cháy, các dụng cụ chữa cháy.

An toàn giao thông

Định kỳ tổ chức cho 100% cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị học tập, quán triệt Luật Giao thông đường bộ và các văn bản pháp quy về giao thông đường biển.

Đạt chỉ tiêu về an toàn giao thông do Ban Chỉ đạo 50 Bộ Quốc phòng đề ra đối với giao thông đường bộ và trên biển.

Kết luận

Để đánh giá chất lượng CTKT trong thời bình của BTL Vùng Cảnh sát biển cần phải xây dựng bộ tiêu chí đánh giá chất lượng CTKT, bao gồm: Tiêu chí về mức độ hoàn thành nội dung CTKT; tiêu chí về xây dựng, củng cố hệ thống tổ chức ngành kỹ thuật; tiêu chí về xây dựng lực lượng kỹ thuật và tiêu chí về an toàn trong thực hiện CTKT và an toàn giao thông. Do tính chất từng nội dung CTKT thời bình nên có tiêu chí thể hiện định lượng, có tiêu chí chỉ thể hiện định tính. Trước yêu cầu ngày càng cao đối với CTKT, các tiêu chí đánh giá chất lượng có thể thay đổi. Vì thế, cơ quan kỹ thuật các cấp cần nghiên cứu điều chỉnh kịp thời để chỉ đạo đơn vị tổ chức thực hiện đảm bảo chất lượng theo yêu cầu nhiệm vụ trong từng thời kỳ.

Đại tá, PGS, TS. HỒ ĐỨC VINH

Khoa Chỉ huy Tham mưu kỹ thuật/Học viện Kỹ thuật Quân sự

Thượng tá, ThS. NGUYỄN QUANG HÙNG

Phụ trách Cục Kỹ thuật Cảnh sát biển

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1]. Báo Quân đội Nhân dân online (qdnd.vn) ngày 17 tháng 6 năm 2021, Hà Nội.

[2]. Bộ Quốc phòng (2004), Điều lệ CTKT Quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb QĐND, Hà Nội.

[3]. Trung tâm Từ điển (2013), Từ điển Tiếng Việt, Hà Nội.

Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục gửi về banbientapcsb@gmail.com

Các tin liên quan