01/12/2025 01:39:00 PM
(Canhsatbien.vn) -
Cách đây hơn 30 năm, vào ngày 16/11/1994, Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS) chính thức có hiệu lực sau khi được 60 nước thành viên Liên Hợp quốc phê chuẩn, đánh dấu một bước tiến lớn trong lịch sử nhân loại và trở thành mốc son quan trọng trong quá trình phát triển lâu dài của pháp luật quốc tế nói chung, luật biển quốc tế nói riêng. Có thể khẳng định, quá trình hình thành và phát triển của luật biển quốc tế nói chung, UNCLOS nói riêng luôn song hành với nhu cầu, quyết tâm phát triển của cộng đồng quốc tế hiện đại; UNCLOS được nhân loại coi như là bản “Hiến chương xanh” vì mục tiêu hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển bền vững trên biển.
UNCLOS với các quy định mang tính bao quát, toàn diện điều chỉnh các vấn đề liên quan đến biển, đại dương; xác định rõ và điều chỉnh cân bằng giữa quyền, nghĩa vụ của quốc gia ven biển và quyền tự do biển cả của quốc gia khác trên biển, đặc biệt là tạo cơ sở pháp lý để các nước xác lập các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trên biển; giảm bớt những yêu sách biển quá mức nhằm giảm thiểu các tranh chấp và tạo hành lang, cơ chế pháp lý rõ ràng, có tính hệ thống để các bên tranh chấp giải quyết các khác biệt bằng biện pháp hòa bình, phù hợp các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên Hợp quốc. UNCLOS cũng đã tạo ra một không gian để các nước sử dụng tài nguyên biển và có trách nhiệm bảo vệ môi trường và hệ sinh thái biển; xác định rõ trách nhiệm hợp tác quốc tế và các biện pháp đối phó với mối đe dọa chung liên quan đến biển như cướp biển, cướp có vũ trang chống lại tàu thuyền, biến đổi khí hậu, suy thoái môi trường biển.
Qua 30 năm có hiệu lực, UNCLOS với các giá trị cốt lõi đã được hầu hết các quốc gia thành viên Liên Hợp quốc phê chuẩn, được thừa nhận rộng rãi ở phạm vi toàn cầu và trở thành văn kiện pháp lý quốc tế đóng vai trò quan trọng, mang tính phổ quát nhất, nền tảng nhất trong đời sống quan hệ quốc tế hiện đại. UNCLOS đang ngày càng khẳng định giá trị đặc biệt quan trọng góp phần thúc đẩy quan hệ hợp tác thiện chí, hữu nghị giữa các nước về biển thông qua các hoạt động thực thi pháp luật, quản lý, sử dụng, khai thác tài nguyên biển; góp phần tăng cường an ninh, bảo đảm hòa bình, ổn định thế giới; tạo cơ chế giải quyết các tranh chấp, bất đồng trên biển; thúc đẩy các hoạt động trên biển và có những đóng góp không nhỏ vào sự nghiệp sự phát triển bền vững, thịnh vượng của mỗi quốc gia, mỗi khu vực và cả cộng đồng quốc tế trong đó có Việt Nam.
Từ lâu đời trong lịch sử, biển là không gian sinh tồn của Việt Nam. Các hoạt động của Việt Nam trên Biển Đông bắt đầu từ hàng nghìn năm trước trên nhiều lĩnh vực từ kinh tế, hàng hải cho đến bảo vệ đất nước. Ngày 23/6/1994, tại Kỳ họp thứ 5/Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa IX đã chính thức phê chuẩn UNCLOS, biểu thị quyết tâm của Việt Nam sẵn sàng cùng cộng đồng quốc tế xây dựng một nền tảng pháp lý quốc tế công bằng, khuyến khích sự phát triển và hợp tác trên biển. Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 xác định tập trung xây dựng lực lượng thực thi pháp luật trên biển và tăng cường hiệu quả thi hành pháp luật Việt Nam, pháp luật quốc tế trong đó có UNCLOS trên các vùng biển Việt Nam, mở rộng hợp tác quốc tế nhằm mục tiêu phát triển kinh tế và sử dụng bền vững biển. Chiến lược quân sự quốc phòng, Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới cũng đều xác định hướng biển là một trong những hướng trọng yếu để bảo vệ đất nước.
Kể từ khi UNCLOS chính thức có hiệu lực đến nay, trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ được giao, các cơ quan, đơn vị, lực lượng thuộc Bộ Quốc phòng đã tích cực, chủ động hoàn thành tốt nhiệm vụ tham mưu cho Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đề xuất Đảng, Nhà nước hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về quân sự, quốc phòng, thực thi pháp luật trên biển, nhất là nội luật hóa các quy định của UNCLOS vào pháp luật Việt Nam. Có thể kể tới các văn bản pháp luật quan trọng của Việt Nam từ năm 1994 đến nay, như: Luật Biên giới quốc gia năm 2003, Luật An ninh quốc gia năm 2004, Luật Biển Việt Nam năm 2012, Bộ luật Hàng Hải năm 2015, Luật Tài nguyên môi trường và hải đảo năm 2015, Bộ luật Hình sự năm 2015, Luật Quốc phòng năm 2018, Luật Dân quân tự vệ năm 2018; Pháp lệnh về Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam 1998, 2008, Luật Cảnh sát biển Việt Nam năm 2018; Pháp lệnh về Lực lượng Bộ đội Biên phòng năm 1997, Luật Biên phòng Việt Nam năm 2020; Luật Phòng thủ dân sự năm 2022, Luật Phòng không nhân dân năm 2024…
Trên cơ sở quy định của UNCLOS, Hiến pháp và pháp luật Việt Nam, các hiệp định phân định biển giữa Việt Nam và các nước láng giềng đã được đàm phán, ký kết theo đúng nguyên tắc hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS; góp phần thúc đẩy quan hệ hòa bình, ổn định và phát triển giữa Việt Nam và các nước láng giềng. Tại các vùng biển còn chồng lấn, chưa phân định, Việt Nam luôn tôn trọng quyền chủ quyền, quyền tài phán của các nước và tiếp tục thúc đẩy đàm phán để tìm giải pháp cơ bản lâu dài. Việt Nam ủng hộ việc duy trì ổn định trên cơ sở giữ nguyên trạng, không làm phức tạp tình hình, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong giải quyết tranh chấp, hướng tới xây dựng môi trường hòa bình, hữu nghị bền vững, lâu dài trên biển. Các cơ quan, đơn vị, lực lượng thuộc Bộ Quốc phòng đã hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao trong quản lý, bảo vệ và duy trì thực thi pháp luật trên các vùng biển, đảo của Việt Nam và không ngừng mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế thực chất cả bề rộng, chiều sâu với các cơ quan, tổ chức, lực lượng trên biển của các nước trong khu vực, trên thế giới.
Bộ Quốc phòng nước CHXHCN Việt Nam có chức năng tham mưu chiến lược với Đảng, Nhà nước về đường lối, nhiệm vụ quân sự quốc phòng; thực hiện quản lý nhà nước về lĩnh vực quân sự, quốc phòng; tổ chức xây dựng, quản lý, chỉ đạo, chỉ huy, điều hành các lực lượng thuộc quyền nhằm bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam cũng như bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng khác của Việt Nam trên biển theo quy định của pháp luật quốc tế (trong đó có UNCLOS). Với chức năng, nhiệm vụ được giao, Bộ Quốc phòng có nhiều đơn vị, lực lượng hoạt động trên hướng biển, nhất là trong nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia và bảo đảm việc chấp hành pháp luật Việt Nam, các điều ước quốc tế mà nước CHXHCN Việt Nam là thành viên (trong đó có UNCLOS) trên biển, trong đó có 3 lực lượng chuyên trách, nòng cốt, gồm: Hải quân nhân dân Việt Nam, Bộ đội Biên phòng Việt Nam, Cảnh sát biển Việt Nam, cụ thể:
- Hải quân nhân dân Việt Nam là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ trên các vùng biển, đảo của Việt Nam và xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân trên biển; có nhiệm vụ quản lý, bảo vệ vững chắc vùng biển, đảo thuộc chủ quyền Việt Nam, sẵn sàng chiến đấu, độc lập hoặc hiệp đồng tác chiến, đánh bại mọi cuộc tiến công xâm lược trên hướng biển; giữ vững an ninh, trật tự, đấu tranh với mọi hành vi vi phạm chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Việt Nam trên biển; tham gia phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn; bảo vệ hoạt động kinh tế biển và các hoạt động khác trên các vùng biển, đảo theo quy định của pháp luật Việt Nam, pháp luật quốc tế, nhất là các quy định của UNCLOS về các hoạt động quân sự, quốc phòng, quản lý bảo vệ biển, đảo của quốc gia ven biển. Thực tiễn trong khuôn khổ đối ngoại và hợp tác quốc tế liên quan đến UNCLOS, những năm qua, Hải quân nhân dân Việt Nam đã không ngừng đẩy mạnh hoạt động hợp tác quốc tế trên cơ sở phù hợp UNCLOS 1982, nổi bật là: Đón tàu quân sự các nước đến thăm Việt Nam; tổ chức các chuyến tàu Hải quân Việt Nam đi thăm, giao lưu, tuần tra chung, tuần tra liên hợp và tham gia hoạt động đa phương ở các nước trong và ngoài khu vực; chủ động tham gia các hoạt động tại Tổ chức Thủy đạc quốc tế (IHO), Thủy đạc Đông Á (EAHC); thỏa thuận thủy đạc song phương với Anh, Pháp, Nauy, Ấn Độ; cử sĩ quan liên lạc trực tại Trung tâm chia sẻ thông tin an ninh hàng hải IFC/Singapore…
- Bộ đội Biên phòng Việt Nam là lực lượng vũ trang nhân dân, thành phần của Quân đội nhân dân Việt Nam, là lực lượng nòng cốt, chuyên trách bảo vệ biên giới quốc gia, khu vực biên giới (trong đó có biên giới biển và khu vực biên giới biển); có chức năng tham mưu, đề xuất cho Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành theo thẩm quyền hoặc đề xuất với Đảng, Nhà nước chính sách, pháp luật về biên phòng; thực hiện quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh, đối ngoại và chủ trì, phối hợp với cơ quan, tổ chức duy trì an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở khu vực biên giới, cửa khẩu theo quy định pháp luật; tham mưu Bộ Quốc phòng chủ trương, giải pháp tăng cường công tác hội nhập quốc tế trong quản lý, kiểm soát xuất nhập cảnh, đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng cán bộ và các nội dung khác thuộc lĩnh vực công tác biên phòng.
- Cảnh sát biển Việt Nam là lực lượng vũ trang nhân dân, lực lượng chuyên trách của Nhà nước, làm nòng cốt thực thi pháp luật và bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn trên biển; có chức năng tham mưu cho Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành theo thẩm quyền hoặc đề xuất với Đảng, Nhà nước về chính sách, pháp luật bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn trên biển; bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trong vùng biển Việt Nam; quản lý về an ninh, trật tự, an toàn và bảo đảm việc chấp hành pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà nước CHXHCN Việt Nam là thành viên, thỏa thuận quốc tế theo thẩm quyền. Thực tiễn kết quả hợp tác quốc tế của Lực lượng Cảnh sát biển trong những năm qua cho thấy: Cảnh sát biển Việt Nam đã ký kết nhiều văn bản hợp tác song phương với lực lượng thực thi pháp luật trên biển/Cảnh sát biển 9 nước trong và ngoài khu vực (9 MOU và 01 Ý định thư); tham gia tích cực, có trách nhiệm trong các cơ chế, diễn đàn đa phương (Hiệp định ReCAAP; Hội nghị những người đứng đầu Cảnh sát biển các nước Châu Á (HACGAM); Diễn đàn Tư lệnh lực lượng thực thi pháp luật trên biển các quốc gia Đông Nam Á (SEAMLEI); Đối thoại thực thi pháp luật trên biển (MLED); Hội nghị Cảnh sát biển toàn cầu (CGGS)…); duy trì Trung tâm trao đổi, chia sẻ thông tin liên lạc về an ninh hàng hải, cướp biển, cướp có vũ trang, tìm kiếm cứu nạn với lực lượng thực thi pháp luật của hơn 21 nước; duy trì đường dây nóng với lực lượng thực thi pháp luật 8 nước ven Biển Đông trong khu vực; định kỳ tuần tra liên hợp, tuần tra chung trên biển; tổ chức, tham dự nhiều chương trình giao lưu, hợp tác quốc tế với lực lượng thực thi pháp luật trên biển các nước trong khu vực và trên thế giới.
Kết quả hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ cũng như hoạt động đối ngoại, hợp tác quốc tế của các lực lượng thuộc Bộ Quốc phòng trên cơ sở quy định của UNCLOS đã góp phần xây dựng, củng cố lòng tin chiến lược của Việt Nam với các quốc gia; thúc đẩy giải quyết tranh chấp, bất đồng trên biển bằng các biện pháp hòa bình trên cơ sở thượng tôn pháp luật quốc tế (trong đó có UNCLOS) và hướng tới mục tiêu chung tay xây dựng vùng biển ổn định, hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững.
Hiện nay, thực tiễn quản lý, khai thác, sử dụng biển của các nước đang đặt ra nhiều vấn đề mới mà UNCLOS chưa quy định cụ thể như: (i) Xu hướng vận dụng, diễn giải UNCLOS theo cách hiểu riêng nhằm tối đa hóa lợi ích chiến lược của quốc gia trên biển hoặc đơn phương yêu sách trên biển làm ảnh hưởng tới quyền, lợi ích hợp pháp của nước khác; (ii) Một số vấn đề mới cần được pháp luật quốc tế quy định rõ ràng hơn như vấn đề mực nước biển dâng làm thay đổi đường cơ sở quốc gia ven biển; trách nhiệm hợp tác của các nước trong ứng phó biến đổi khí hậu, nghiên cứu khoa học biển, bảo vệ môi trường biển; quản lý phương tiện tự hành trên biển và vùng trời trên biển… Thực tế này đòi hỏi các nước trên thế giới tiếp tục hợp tác chặt chẽ, không ngừng xây dựng lòng tin chiến lược để giải quyết những vấn đề mới phát sinh.
Trong những năm tiếp theo, trên cơ sở nhận thức rõ tầm quan trọng của các vấn đề liên quan đến biển và vị trí, ý nghĩa của UNCLOS; Bộ Quốc phòng nói chung và các đơn vị, lực lượng thuộc quyền nói riêng sẽ tiếp tục nỗ lực để có những đóng góp tích cực trong thực thi đầy đủ, toàn diện các quy định của UNCLOS; là lực lượng tiên phong khẳng định, đề cao vai trò của UNCLOS tại các diễn đàn quốc tế toàn cầu, khu vực cũng như trong các mối quan hệ trong lĩnh vực đối ngoại, hợp tác quân sự, quốc phòng cả song phương và đa phương; tích cực, chủ động, có trách nhiệm trong tham mưu, đề xuất Đảng, Nhà nước giải quyết các vấn đề quốc tế, khu vực về biển và đại dương. Trên cơ sở đó, khẳng định với cộng đồng quốc tế Việt Nam là quốc gia có trách nhiệm, thượng tôn pháp luật quốc tế và UNCLOS; tận tâm, thiện chí thực thi đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, đặc biệt là Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982; sẵn sàng bảo vệ tính toàn vẹn và giá trị pháp lý của UNCLOS như là một khuôn khổ pháp lý mang tính phổ quát, toàn cầu về biển và đại dương của nhân loại.
Trung tá HÀ TUẤN ANH
Phó Trưởng phòng, Phòng Pháp chế/Cục Nghiệp vụ và Pháp luật Cảnh sát biển