Một số giải pháp phát huy vai trò của ngư dân trong thực hiện Nghị quyết 36 của Đảng về “Phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”

08/11/2025 01:35:00 PM

(Canhsatbien.vn) - 

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm hỗ trợ tối đa cho ngư dân phát triển kinh tế biển. Nghị quyết Trung ương 8, khóa XII về “Chiến lược Phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” đang được triển khai thực hiện, tạo nền tảng cho ngư dân phát triển kinh tế biển bền vững. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng khẳng định, kinh tế biển là một trong những nhiệm vụ, giải pháp quan trọng để đưa Việt Nam đến năm 2030 là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Điều đó mở ra triển vọng về giai đoạn phát triển mới cho nền kinh tế biển nước ta hướng ra biển và làm giàu từ biển. Để thực hiện thành công Chiến lược này, đòi hỏi phải phát huy sức mạnh tổng hợp, trong đó ngư dân có vai trò quan trọng, nòng cốt.

Quán triệt thực hiện Nghị quyết 36 của đảng, đến nay, các khu kinh tế ven biển được đầu tư xây dựng, ngư dân được tiếp cận nguồn vốn hỗ trợ của Nhà nước để tập trung sản xuất, đã có một lực lượng đông đảo tàu cá vỏ sắt, vỏ composite của bà con ngư dân hoạt động, làm ăn trên Biển Đông. Cùng với đó, các lực lượng như Cảnh sát biển, Hải quân, Bộ đội Biên phòng luôn đồng hành với ngư dân trên biển, là điểm tựa vững chắc để ngư dân yên tâm vươn khơi, bám biển. Các đơn vị chức năng cùng với ngư dân tạo thành một thế trận vững chắc để bảo vệ chủ quyền, giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn trên các vùng biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Cảnh sát biển và các đơn vị đồng hành trao tặng cờ Tổ quốc cho ngư dân Nghiệp đoàn Nghề cá An Hải (huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi). Ảnh: Liên Nhi

Tuy nhiên, hiệu quả tổ chức sản xuất và khai thác, vươn khơi bám biển của ngư dân chưa cao, việc khai thác, đánh bắt xa bờ của ngư dân hiện nay chủ yếu vẫn là đơn lẻ, nhóm nhỏ, chưa hình thành các đội sản xuất có quy mô lớn để hỗ trợ nhau trên biển. Sản phẩm đầu ra của ngư dân chưa được bảo đảm, nhất là những thị trường khó tính, làm giảm hiệu quả đầu tư tín dụng trong ngư nghiệp. So với diện tích biển thì phương tiện đánh bắt hải sản của ngư dân nước ta còn ít về số lượng, nhỏ về công suất, lại chủ yếu là tàu vỏ gỗ, nên chưa tương xứng với tiềm năng và yêu cầu khai thác hải sản ở vùng biển xa và khả năng chống chọi với những tình huống phức tạp trên biển; ý thức của ngư dân trong bảo vệ môi trường biển, bảo tồn, phát triển văn hóa, sinh thái biển, phát triển kinh tế biển xanh còn hạn chế.

Để phát huy vai trò của ngư dân trong thực hiện Nghị quyết 36 của Đảng về “Phát triển bền vững kinh tế biển đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”, cần làm tốt một số giải pháp sau:

Một là, tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của ngư dân trong thực hiện Nghị quyết 36 của Đảng về “Phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”.

Cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương cần tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức của nhân dân, nhất là ngư dân về vị trí, vai trò và tầm quan trọng đặc biệt của biển đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; luôn nhận thức sâu sắc rằng biển là bộ phận cấu thành chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, là không gian sinh tồn, cửa ngõ giao lưu quốc tế, gắn bó mật thiết với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phải xác định trách nhiệm của mình trong phát triển kinh tế biển để Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh và an toàn. Phát triển bền vững kinh tế biển là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, là quyền và nghĩa vụ của mọi tổ chức, doanh nghiệp và người dân. Mỗi ngư dân phải thấy được trách nhiệm to lớn của mình trong phát triển kinh tế biển và gìn giữ môi trường sinh thái biển, thống nhất giữa nhận thức và hành động, tạo sự đồng thuận cao trong toàn xã hội.

Nâng cao nhận thức của ngư dân về mục tiêu tổng quát của Chiến lược Phát triển bền vững kinh tế biển đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Nắm chắc, hiểu rõ những chính sách ưu đãi của Đảng và Nhà nước trong hỗ trợ ngư dân phát triển kinh tế biển. Đồng thời, nâng cao nhận thức của ngư dân về Luật Biển, điều ước quốc tế về biển, quy định, điều cấm trong khai thác đánh bắt hải sản trên biển của Nhà nước và các tổ chức quốc tế; chấp hành nghiêm pháp luật đồng thời đấu tranh với những hành động sai trái cố tình vi phạm pháp luật, quy định về đánh bắt thủy hải sản trên biển của Nhà nước và các tổ chức quốc tế.

Nâng cao trách nhiệm cho ngư dân trong quá trình sản xuất, khai thác, vươn khơi bám biển, xây dựng vùng biển an toàn. Phải làm cho ngư dân xác định rõ trách nhiệm, quyết tâm khai thác tiềm năng kinh tế biển, làm giàu cho gia đình, địa phương, góp phần quan trọng vào việc khẳng định và bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. Tích cực, chủ động phối hợp chặt chẽ với lực lượng chấp pháp trong giải quyết các vấn đề trên biển.

Tăng cường sử dụng các hình thức, phương pháp: nói chuyện, phổ biến kiến thức văn hóa, khoa học biển; các chính sách của Nhà nước ta hỗ trợ ngư dân vươn khơi bám biển... phát huy vai trò các phương tiện thông tin đại chúng, các phương tiện kỹ thuật hỗ trợ... Đẩy mạnh thông tin hai chiều theo hướng dân chủ hóa, tăng cường đối thoại, thông qua nhiều tổ chức và hình thức phong phú, đa dạng, mở rộng thông tin tuyên truyền cho các tầng lớp ngư dân. Đây là hướng cần ưu tiên trong đổi mới hình thức, phương pháp tuyên truyền vận động ngư dân thực hiện Chiến lược Phát triển bền vững kinh tế biển hiện nay.

Hai là, có cơ chế, chính sách phù hợp để ngư dân tham gia sâu, rộng vào phát triển bền vững kinh tế biển

Nhà nước cần đẩy nhanh chủ trương: Tập trung xây dựng và nhân rộng các mô hình khu kinh tế, khu công nghiệp sinh thái ven biển gắn với hình thành và phát triển các trung tâm kinh tế biển mạnh. Khu kinh tế ven biển phải đóng vai trò chủ đạo trong phát triển vùng và gắn kết liên vùng. Tạo cơ chế để xuất hiện nhu cầu hợp tác của ngư dân bằng cách xây dựng mô hình hợp tác có hiệu quả ở từng làng chài. Thúc đẩy thành lập các hợp tác xã cung ứng dịch vụ đầu vào và đảm bảo tiêu thụ đầu ra ngay trên biển dưới sự hỗ trợ đầu tư của Nhà nước. Chỉ đạo tổ chức, triển khai xây dựng các mô hình hợp tác xã thủy sản có hiệu quả kết hợp giữa hoạt động sản xuất và dịch vụ hậu cần trong khai thác và nuôi trồng thủy sản. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực sản xuất, đặc biệt là khai thác hải sản, đảm bảo cho bà con ngư dân yên tâm hoạt động sản xuất, tránh xảy ra tình trạng tranh chấp ngư trường giữa các nước trong khu vực.

Tạo hành lang pháp lý an toàn cho hoạt động xuất khẩu thuỷ sản, bảo đảm đầu ra cho hoạt động sản xuất của ngư dân được ổn định. Ngoài hoạt động xúc tiến thương mại ở ngoài nước, đưa sản phẩm thủy sản tới khách du lịch nước ngoài để xây dựng mô hình tiêu dùng thủy sản Việt Nam. Tăng cường sự kiểm soát của ngư dân ngay từ khâu sản xuất đến khâu dịch vụ và nhà máy chế biến hải sản. Quan tâm đào tạo nguồn lao động cho ngư dân có kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm khi thực hiện các hoạt động khai thác, nuôi trồng thủy, hải sản; mở các khóa đào tạo, tập huấn tại cơ sở nhằm giúp ngư dân tiếp cận các loại hình nghề nghiệp mới, kỹ năng xây dựng và thực hiện kế hoạch sản xuất, điều tiết thu nhập và chi tiêu của họ, kinh nghiệm sản xuất thành công và các kỹ năng sử dụng trang thiết bị kỹ thuật vào hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản. Nâng cao hiệu quả thực thi các chính sách ưu tiên đối với việc tuyển dụng con em ngư dân vào các trường đào tạo ngành nghề thủy hải sản chính quy.

Triển khai xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng trên biển, tạo nguồn lực hỗ trợ ngư dân khai thác, nuôi trồng thủy hải sản, phát triển kinh tế biển. Trước mắt, cần khẩn trương triển khai xây dựng và đưa vào hoạt động có hiệu quả đề án Khu kinh tế - quốc phòng ở khu vực quần đảo Trường Sa nhằm tạo ra cơ sở hậu cần nghề cá, nơi neo đậu tránh bão và cung cấp các nhu yếu phẩm cần thiết để hỗ trợ, bảm đảm cho cho ngư dân khai thác hải sản dài ngày trên biển, tạo tiền đề về kinh tế, chính trị- xã hội vững chắc để phát triển kinh tế gắn với củng cố quốc phòng ở các vùng ven biển và trên biển.

Ba là, tăng cường phối hợp giữa cấp ủy chính quyền địa phương với các lực lượng thực thi pháp luật trên biển, làm điểm tựa cho ngư dân vươn khơi bám biển, trở thành cột mốc chủ quyền trên biển.

Cần tăng cường phối hợp trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo xác định nội dung, biện pháp công tác tuyên truyền vận động ngư dân giữa cấp ủy, tổ chức đảng ở các Lực lượng Cảnh sát biển, Hải quân, Biên phòng với cấp ủy, chính quyền địa phương. Các bên cần phải coi đây là một nội dung quan trọng, thường xuyên và lâu dài, góp phần nâng cao nhận thức, tạo sự đồng thuận trong cán bộ, đảng viên, quân nhân, người lao động và các tầng lớp nhân dân, ngư dân trong các chủ trương của Đảng, Nhà nước ta về Chiến lược Biển Việt Nam. Góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả các hoạt động tuyên truyền, vận động, hỗ trợ và giúp đỡ bà con ngư dân khai thác hải sản an toàn, đúng pháp luật, cùng với các lực lượng bảo vệ vững chắc chủ quyền vùng biển, đảo, thềm lục địa của Tổ quốc.

Thực hiện có hiệu quả chương trình “Cảnh sát biển đồng hành với ngư dân” và “Hải quân Việt Nam làm điểm tựa cho ngư dân vươn khơi bám biển”. Làm tốt công tác phối hợp thông tin, tuyên truyền, góp phần nâng cao nhận thức của ngư dân về vị trí, vai trò của biển, đảo, kiến thức về pháp luật Việt Nam và quốc tế trong khai thác thủy hải sản trên biển; triển khai các hoạt động hỗ trợ ngư dân khai thác, sản xuất trên biển, tạo tình cảm gắn bó sâu sắc của cán bộ, chiến sĩ quân đội với bà con ngư dân. Đồng thời, kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ tuần tra, trinh sát, huấn luyện của các đơn vị bảo vệ ngư dân trên các vùng biển, đảo của Tổ quốc với các hoạt động hỗ trợ về vật chất, phương tiện của địa phương, sự chung tay góp sức của các lực lượng quần chúng nhân dân, để giúp ngư dân có cơ sở vững chắc, yên tâm tổ chức sản xuất, khai thác ở vùng biển truyền thống và chủ động khai thác ở các vùng biển sâu, biển xa.

Bốn là, phát huy vai trò của ngư dân trong bảo vệ văn hóa sinh thái biển, phát triển kinh tế biển “xanh”.

Hiện nay, hoạt động phát triển kinh tế biển mà ngư dân tham gia chủ yếu vẫn là các hoạt động sản xuất, khai thác mang tính chất truyền thống, khai thác là chính, ngư dân chưa thật sự quan tâm đến mối quan hệ gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường biển. “Sức khỏe” của các vùng biển Việt Nam chưa được bảo đảm do chưa thể hài hòa giữa khai thác, sử dụng tài nguyên, môi trường biển với bảo vệ, bảo tồn và phục hồi các hệ sinh thái biển, ven biển. Do đó, ô nhiễm môi trường biển có lúc, có nơi vẫn còn diễn ra nghiêm trọng; ô nhiễm rác thải nhựa đại dương đã trở thành vấn đề cấp bách; một số tài nguyên biển bị khai thác quá mức, đa dạng sinh học suy giảm; công tác ứng phó biến đổi khí hậu, nước biển dâng, biển xâm thực còn hạn chế.

Chủ trương mới xuyên suốt trong Nghị quyết 36 của Đảng đối với các ngành kinh tế biển và ven biển là phát triển dựa trên hệ sinh thái và hài hòa với tự nhiên; phát triển các ngành kinh tế biển chuyển từ nền kinh tế khai thác và gây ô nhiễm môi trường sang kinh tế xanh, đầu tư vào vốn tự nhiên trong chuỗi kết nối hữu cơ, từ trong đất liền ra đến biển; giảm các nguồn gây ô nhiễm môi trường biển ngay từ trong đất liền. Do vậy phải hướng cho ngư dân tham gia vào quá trình phát triển kinh tế biển xanh, bảo vệ văn hóa sinh thái biển, chủ động trong phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường biển.

Như vậy, để phát huy vai trò của ngư dân trong thực hiện Nghị quyết 36 của Đảng về “Phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”, rất cần sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền, lãnh đạo, chỉ huy các cấp, các lực lượng thực thi pháp luật trên biển cũng như các cấp, các ngành, các tổ chức trong hệ thống chính trị. Đồng thời, cần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của ngư dân trong phát triển kinh tế biển, làm giàu từ biển và bảo vệ môi trường biển, tạo cơ sở động lực quan trọng thực hiện thắng lợi các mục tiêu mà Nghị quyết 36 của Đảng đã đề ra, phấn đấu đến năm 2045, Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh, an toàn; kinh tế biển đóng góp quan trọng vào nền kinh tế đất nước.

Trung tá, ThS. MAI HUY ĐÔNG
Khoa Lý luận Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh/Học viện Hải quân

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

  1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Tài liệu học tập Nghị quyết Trung ương 6 khóa XII, Nxb QĐND, Hà Nội, 2018

  2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn Kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Nxb CTQG, Hà Nội, 2021.

 

Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục gửi về banbientapcsb@gmail.com

Các tin liên quan