Quán triệt quan điểm Đại hội XIII của Đảng về hỗ trợ ngư dân vươn khơi, bám biển, kết hợp với quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong tình hình mới

15/11/2025 09:46:00 PM

(Canhsatbien.vn) - 

Ngư dân có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội kết hợp với quốc phòng, an ninh; cùng với các lực lượng khác tham gia bảo vệ, giữ vững chủ quyền biển, đảo. Hỗ trợ ngư dân vươn khơi, bám biển là quan điểm, chủ trương nhất quán, lâu dài của Đảng và Nhà nước ta, cần tiếp tục nghiên cứu, quán triệt và tổ chức thực hiện có hiệu quả ở tất cả các cấp, các ngành, lực lượng và toàn thể nhân dân.

Biển, đảo luôn gắn với quá trình xây dựng, phát triển của đất nước và con người Việt Nam. Suốt chiều dài lịch sử, các triều đại phong kiến Việt Nam luôn quan tâm phát huy vai trò của ngư dân trong bảo vệ và thực thi chủ quyền của Việt Nam trên các vùng biển, đảo. Với truyền thuyết Lạc Long Quân, Mẹ Âu Cơ và năm mươi người con theo Cha về biển, năm mươi người con theo Mẹ lên núi, chia nhau trị vì các nơi. Đến thời Lý, Trần, Lê đã lập trấn, tuần kiểm ở các cửa biển, đảo để quản lý biển và thu thuế các tàu, thuyền nước ngoài qua lại trên vùng biển của ta. Thời chúa Nguyễn đã lập các đội Hoàng Sa, Bắc Hải ra vùng Hoàng Sa, Trường Sa tuần tra, trấn giữ, khai thác sản vật, xác lập chủ quyền của Việt Nam đối với các vùng biển, đảo. Hơn 500 năm trước, Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đã viết, “Biển Đông vạn dặm dang tay giữ, đất Việt muôn năm vững trị bình, chí những phù nguy xin gắng sức, cõi bờ xưa cũ tổ tiên mình”. Rằng phải nắm giữ được Biển Đông thì đất nước mới thái bình, thịnh trị muôn đời.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói về vai trò của biển đối với quốc phòng, an ninh và vai trò của nhân dân miền biển trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo: “Đồng bằng là nhà, mà biển là cửa... Cho nên một nhiệm vụ quan trọng của đồng bào miền biển là phải bảo vệ bờ biển. Đồng bào miền biển là người canh cửa cho Tổ quốc”1. Do đó, các cô, các chú đã cố gắng bảo vệ mặt biển, biên giới của Tổ quốc, cùng nhân dân giữ gìn an ninh trật tự. Phải đẩy mạnh hơn nữa nghề cá, nghề biển.2

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, nhất là từ khi đổi mới đến nay, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách thúc đẩy phát triển bền vững kinh tế biển, đảo gắn với củng cố quốc phòng, an ninh. Trong đó, những chính sách hỗ trợ, giúp đỡ ngư dân vươn khơi, bám biển được chú trọng và ngày càng hoàn thiện hơn. Ngư dân là một trong những lực lượng quan trọng, cùng với các lực lượng khác tham gia bảo vệ, giữ vững chủ quyền biển, đảo. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Thực hiện tốt Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển, kết hợp chặt chẽ với bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền biển, đảo”. Đồng thời, “Xây dựng các chương trình hỗ trợ ngư dân bám biển, đánh bắt xa bờ, tạo điều kiện cho việc phòng thủ, bảo vệ, kiểm soát và làm chủ vùng biển”. Theo đó, các chính sách tập trung vào việc hỗ trợ ngư dân chuyển đổi phương thức đánh bắt truyền thống gần bờ, nhỏ lẻ, ảnh hưởng đến môi trường sinh thái sang nuôi trồng thủy hải sản, vươn khơi bám biển. Phát triển các đội tàu cá vỏ thép, các tổ hợp tác, đánh bắt hải sản xa bờ, dịch vụ hậu cần nghề cá bằng các chính sách ưu đãi về vốn, thuế, bảo hiểm, các trang thiết bị cần thiết trên tàu, thu mua hải sản cùng nhiều chính sách khác.

Các địa phương thực hiện tốt chính sách hỗ trợ ngư dân theo chủ trương của Chính phủ. Hướng dẫn, hỗ trợ ngư dân phát triển các hình thức liên kết ngang theo mô hình tổ, ngư đội, hợp tác xã, nghiệp đoàn nghề cá với các doanh nghiệp thu mua, chế biến, xuất khẩu. Hỗ trợ kỹ thuật khai thác tiên tiến, kỹ thuật bảo quản, phương thức vận chuyển hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng hải sản sau khai thác. Phối hợp chặt chẽ với các lực lượng trên biển như Hải quân, Cảnh sát biển, Biên phòng, Dân quân thường trực biển trong tuyên truyền, hỗ trợ ngư dân vươn khơi, bám biển, kết hợp phát triển kinh tế gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh trên biển. Cùng với nhiều tỉnh, thành ven biển khác, hằng năm, Đà Nẵng chi hàng chục tỷ đồng hỗ trợ xăng dầu cho ngư dân và phát huy vai trò sức mạnh của các tổ chức, lực lượng, doanh nghiệp hỗ trợ ngư dân với nhiều hình thức khác nhau như: đào tạo, bồi dưỡng nhân lực; trang bị miễn phí máy thông tin liên lạc hiện đại cho các tổ đội tàu đánh bắt xa bờ.

Những chính sách trên trực tiếp hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho ngư dân được tiếp cận các nguồn lực trong hoạt động nghề cá, vươn khơi bám biển. Với ngư dân, “thuyền là nhà, biển cả là quê hương”, vươn khơi không chỉ để mưu sinh mà còn kết hợp chặt chẽ với bảo đảm quốc phòng, an ninh, góp phần khẳng định và giữ vững, bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Bên cạnh những kết quả đạt được, hiện nay một số chính sách chưa thật sự phù hợp với thực tế hoạt động của ngư dân; việc thụ hưởng, tiếp cận chính sách còn gặp nhiều giới hạn, quy định khắt khe, gây khó khăn cho ngư dân. Hơn nữa, việc quán triệt và tổ chức thực hiện chính sách ở một số nơi chưa thật tốt, chưa đồng bộ, chậm triển khai, hiệu quả thấp, gây lãng phí nguồn lực của Nhà nước và nhân dân. Nhận thức và tổ chức thực hiện việc kết hợp phát triển kinh tế biển với quốc phòng, an ninh và phối kết hợp giữa các lực lượng trong triển khai thực hiện quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với ngư dân có mặt chưa thật tốt. Một bộ phận ngư dân chưa nhận thức đầy đủ, chưa hiểu hết ý nghĩa của chương trình, chính sách, mô hình mà các cấp, các ngành, chính quyền địa phương triển khai...

Đặc biệt, đầu năm 2022, khi tình hình xung đột chiến sự xảy ra ở một số khu vực trên thế giới đã tác động mạnh đến phát triển kinh tế - xã hội của nhiều quốc gia. Chi phí vật tư đầu vào của nhiều ngành kinh tế tăng, nhất là giá xăng dầu, khiến khó khăn chồng chất khó khăn, ảnh hưởng đến hoạt động của ngư dân. Một số nơi, ngư dân đã chuyển đổi hoạt động của các tàu có công suất lớn từ nghề câu mực khơi và đánh bắt xa bờ sang khai thác gần bờ hoặc giảm thời gian hoạt động trên biển… từ đó tiếp tục đặt ra yêu cầu mới về thực hiện chính sách hỗ trợ ngư dân ở nước ta hiện nay.

Quán triệt quan điểm Đại hội XIII của Đảng về hỗ trợ ngư dân bám biển, đánh bắt xa bờ, kết hợp chặt chẽ với bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền biển đảo, cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Một là, tiếp tục nghiên cứu xây dựng các chương trình hỗ trợ ngư dân bám biển, đánh bắt xa bờ sát với thực tế của các địa phương trong nước và quốc tế.

Hiện nay, các quốc gia trên thế giới luôn quan tâm đến biển, đảo; tình trạng tranh chấp chủ quyền, quyền chủ quyền biển, đảo ngày càng phức tạp hơn. Trong đó, các quốc gia đều ưu tiên kết hợp giữa phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng, an ninh trên biển với nhiều chính sách hỗ trợ ngư dân. Theo đó, số lượng tàu cá công suất lớn, tàu cá vỏ thép, tàu dịch vụ hậu cần được phát triển mạnh mẽ. Phương thức tổ chức đánh bắt, dịch vụ hậu cần nghề cá, kết hợp với bảo vệ chủ quyền biển, đảo được hiệp đồng chặt chẽ, ngày càng hiệu quả hơn. Ở nước ta, các chương trình hỗ trợ ngư dân luôn được Đảng, Nhà nước, Chính phủ quan tâm, đầu tư và bước đầu đem lại hiệu quả thiết thực, tạo sự chuyển biến quan trọng trong khai thác hải sản, nhất là tuyến lộng và tuyến khơi góp phần giữ vững chủ quyền biển, đảo. Song, trước yêu cầu nhiệm vụ phát triển bền vững kinh tế biển, củng cố quốc phòng, an ninh trong tình hình mới, cần tiếp tục nghiên cứu, rà soát, xây dựng các chương trình hỗ trợ ngư dân bám biển, đánh bắt xa bờ phù hợp, sát với biến động của thực tế. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chính sách về đầu tư, tín dụng, bảo hiểm, chính sách ưu đãi thuế và một số chính sách khác để phát triển kinh tế biển và bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển, đảo. Nghiên cứu, ban hành các quy định cụ thể, chi tiết hơn về thiết kế tàu vỏ thép phù hợp với thực tế của địa phương; về đóng mới, sửa chữa, duy tu, bảo dưỡng các tàu vỏ thép và đào tạo vận hành tàu; về tình hình bồi lấp luồng lạch, cửa sông, các bến tránh trú bão, neo đậu tàu thuyền nhằm bảo đảm tính đồng bộ trong thực hiện các chính sách. Trong đó, ưu tiên các chương trình hỗ trợ về vốn, đào tạo nguồn nhân lực, thuế, kết nối ngư dân với cơ sở thu mua nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất và các thiết bị hỗ trợ khác cho ngư dân; có chính sách hỗ trợ ngư dân hoạt động trên các vùng biển, đảo ở quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và vùng biển Tây Nam phù hợp với tình hình mới.

Hai là, phát huy vai trò, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị mà trực tiếp là các ban, bộ ngành Trung ương, chính quyền địa phương và các lực lượng liên quan đến hoạt động của ngư dân trên biển. Để các chương trình, chính sách hỗ trợ ngư dân bám biển, đánh bắt xa bờ, góp phần bảo vệ, kiểm soát và làm chủ vùng biển, đảo của Tổ quốc, cần phát huy tốt vai trò, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị mà trực tiếp là các ban, bộ ngành Trung ương, chính quyền địa phương và các lực lượng hoạt động trên biển.

Qua đó, tạo sự chuyển biến đồng bộ ở tất cả các cấp, các ngành, các lực lượng bao gồm từ công tác tham mưu, xây dựng văn bản, chương trình, chính sách đến tổ chức thực hiện và đi vào cuộc sống thực tế của ngư dân. Trên cơ sở quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước, các địa phương cần quán triệt, vận dụng sát thực tế; kết hợp chặt chẽ giữa chính sách chung của Nhà nước với chính sách của địa phương. Phối kết hợp chặt chẽ giữa các lực lượng trong thực thi các chính sách hỗ trợ ngư dân theo đúng pháp luật, nhất là chính sách vốn, thuế và các chính sách hỗ trợ khác. Bảo đảm tính minh bạch, công khai, dân chủ trong tiếp cận chính sách hỗ trợ của ngư dân. Phát huy có hiệu quả các lực lượng chức năng hoạt động trên biển như Hải quân, Cảnh sát biển, Kiểm ngư, Dân quân thường trực biển trong hỗ trợ, hướng dẫn, giúp đỡ, bảo vệ, tạo môi trường thuận lợi cho ngư dân khai thác hải sản. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chương trình “Cảnh sát biển đồng hành với ngư dân” của Cảnh sát biển; “Hải quân Việt Nam làm điểm tựa cho ngư dân vươn khơi, bám biển” của Quân chủng Hải quân; “Vì chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc” của Bộ đội Biên phòng với nhiều mô hình thiết thực, hiệu quả. Với phương châm: Mỗi tàu, thuyền là một cột mốc trên biển gắn phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng, an ninh, chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.

Ba là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của ngư dân trong triển khai và thực hiện có hiệu quả các chương trình, chính sách hỗ trợ của Đảng, Nhà nước, góp phần phát triển bền vững kinh tế biển, kết hợp chặt chẽ với bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.

Đây là giải pháp có vị trí, vai trò quan trọng trong thực hiện quan điểm, chính sách hỗ trợ ngư dân của Đảng và Nhà nước ta. Vì vậy, chính quyền địa phương các cấp cùng các lực lượng chức năng cần đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao hơn nữa nhận thức của nhân dân nói chung và ngư dân nói riêng về quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước đối với ngư dân và ý nghĩa trong phát triển bền vững kinh tế biển gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc, nhất là Quyết định số 48/2010/QĐ-TTg; Nghị định 67/2014/NĐ-CP và Nghị định số 17/2018/NĐ-CP. Nâng cao nhận thức, ý chí quyết tâm của ngư dân trong thực hiện có hiệu quả các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước; thay đổi tập quán, thói quen khai thác thủy, hải sản không phù hợp với luật pháp trong nước và quốc tế; hình thành và phát triển mạnh mẽ các phương thức hoạt động khai thác hải sản phù hợp với tình hình mới. Tích cực học tập, nâng cao trình độ, năng lực, kinh nghiệm khai thác, bảo quản, vận chuyển hải sản đem lại hiệu quả kinh tế cao. Hình thành các đội sản xuất có quy mô lớn, các tổ tàu thuyền để hỗ trợ nhau, nâng cao khả năng chống chọi với những tình huống phức tạp trên biển. Tuân thủ nghiêm các quy định về chống đánh bắt bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU), không xâm phạm vùng biển nước ngoài. Nâng cao nhận thức về âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động; thường xuyên nắm tình hình biển, đảo, quốc phòng, an ninh và tích cực tham gia đấu tranh bảo vệ, giữ vững chủ quyền biển, đảo; phòng chống dịch bệnh và các loại tội phạm trên biển.

Bốn là, có chính sách hỗ trợ phát triển hiệu quả dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển.

Đây là giải pháp quan trọng trực tiếp tác động, ảnh hưởng đến hoạt động của ngư dân vươn khơi, bám biển dài ngày. Với việc phát triển các đội tàu dịch vụ hậu cần làm nhiệm vụ thu mua hải sản, cung ứng xăng dầu, lương thực, thực phẩm trên biển giúp các tàu khai thác xa bờ của ngư dân giảm chi phí trung gian, yên tâm bám biển dài ngày hơn và nâng cao chất lượng sản phẩm, hiệu quả khai thác. Tuy nhiên, số lượng tàu dịch vụ hậu cần nghề cá cũng như số lượng dịch vụ cung ứng của mỗi tàu hiện chưa đáp ứng được nhu cầu của ngư dân khai thác, đánh bắt hải sản dài ngày trên biển. Do đó, thời gian tới, các địa phương cần tiếp tục thực hiện tốt việc rà soát, sắp xếp lại các hoạt động dịch vụ hậu cần nghề cá, nhất là các khâu thu mua, bảo quản và tiêu thụ sản phẩm. Quán triệt, triển khai thực hiện có hiệu quả cơ chế, chính sách của Trung ương và địa phương về hỗ trợ phát triển hoạt động dịch vụ hậu cần nghề cá; khuyến khích, tạo động lực cho tổ chức và cá nhân đầu tư tàu dịch vụ hậu cần nghề cá. Nghiên cứu xây dựng và phát triển các mô hình liên kết khai thác, bao tiêu sản phẩm giữa ngư dân hoạt động trên biển với tàu dịch vụ hậu cần nghề cá sát thực tế, tiến tới xây dựng sản xuất theo chuỗi liên kết, bảo đảm đầu ra ổn định cho ngư dân yên tâm vươn khơi, bám biển dài ngày.

Năm là, có chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề và sinh kế cho ngư dân khai thác ở vùng biển ven bờ.

Thực hiện quan điểm, chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước trong hỗ trợ ngư dân nói chung và hỗ trợ chuyển đổi nghề và sinh kế cho ngư dân khai thác ở vùng biển ven bờ nói riêng có nhiều chuyển biến tích cực. Song, trên thực tế nhiều địa phương, nhiều nơi, nhiều ngư dân có những hoàn cảnh khó khăn, chưa thể tiếp cận chính sách và chuyển đổi nghề thành công. Nhất là chính sách của trung ương về khuyến khích, hỗ trợ khai thác, nuôi trồng hải sản và dịch vụ khai thác hải sản trên các vùng biển xa, hỗ trợ giảm tổn thất trong nông nghiệp, chính sách phát triển thủy sản. Do đó, thời gian tới các địa phương cần tiếp tục nghiên cứu, rà soát, nắm chắc từng đối tượng và tình hình kinh tế - xã hội của địa phương để có chủ trương, chính sách sát đúng, hỗ trợ hiệu quả việc chuyển đổi nghề, sinh kế cho ngư dân khai thác ở vùng biển ven bờ. Ưu tiên, động viên, hỗ trợ ngư dân vay vốn, đào tạo nghề, đầu tư, đóng mới, nâng cấp, cải hoán tàu cá, thực hiện chuyển đổi trong nội bộ nghề khai thác hải sản trên biển, phát triển các đội tàu hoạt động xa bờ, tàu dịch vụ hậu cần nghề cá. Bên cạnh đó, thực hiện tốt việc hỗ trợ, khuyến khích người dân chuyển đổi các nghề khác phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của ngư dân và địa phương. Có chính sách ưu tiên giao mặt nước không thu tiền sử dụng mặt nước cho người dân chuyển từ nghề khai thác thủy sản ven bờ sang nghề nuôi trồng thủy sản. Xây dựng và thực hiện tốt chính sách hỗ trợ lãi suất đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh sản phẩm nông nghiệp; phát triển các vùng sản xuất nông nghiệp tập trung để thu hút lao động là ngư dân khai thác ở vùng biển ven bờ.

Sáu là, nghiên cứu, tổng kết rút kinh nghiệm trong thực hiện các chương trình, chính sách hỗ trợ ngư dân vươn khơi, bám biển kết hợp chặt chẽ với khen thưởng, xử lý nghiêm minh những trường hợp vi phạm các chương trình chính sách trên. Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách hỗ trợ ngư dân vươn khơi, bám biển trong đó có Nghị định số 67/2014/NĐ-CP ngày 7/7/2014 về một số chính sách phát triển thủy sản. Tuy nhiên, qua quá trình tổ chức thực hiện nghị định này đã bộc lộ những hạn chế, bất cập. Theo đó, Nghị định số 17/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67 đã khắc phục được một số bất cập. Một số địa phương chủ động nghiên cứu tổng kết, rút kinh nghiệm kịp thời và ban hành nhiều văn bản, quyết sách tháo gỡ, khắc phục khó khăn cho ngư dân vươn khơi, bám biển. Tuy nhiên, do tình hình thực tế trong và ngoài nước luôn vận động, đòi hỏi các chủ thể tiếp tục nghiên cứu, ban hành chính sách phù hợp, sát thực tế. Phối kết hợp chặt chẽ với các lực lượng trong tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước, Chính phủ ban hành chính sách liên quan đến hỗ trợ ngư dân vươn khơi, bám biển gắn với quốc phòng, an ninh hiệu quả, nhất là nội dung hỗ trợ ngư dân bị thiệt hại do bám biển bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Kịp thời biểu dương các chủ tàu hoạt động hiệu quả, những mô hình hay trong phát triển kinh tế biển gắn với quốc phòng, an ninh để phổ biến và nhân rộng. Thực hiện tốt công tác thanh tra, kiểm tra các chủ thể liên quan đến thực hiện chính sách hỗ trợ ngư dân. Phát hiện và xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm theo quy định của pháp luật, nhất là việc gian lận, trục lợi các chính sách trên. Khắc phục triệt để tình trạng gây phiền hà, sách nhiễu ngư dân trong tiếp cận chính sách của Nhà nước, Chính phủ về hỗ trợ ngư dân, phát triển kinh tế biển, kết hợp phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng, an ninh trên biển, đảo.

Đại tá, PGS, TS. HOÀNG VĂN PHAI
Phó Viện trưởng, Viện Khoa học xã hội và nhân văn quân sự, Học viện Chính trị

 

  • TAI LIỆU THAM KHẢO

    1. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 10, Nxb CTQG ST, Hà Nội, 2011, tr. 311.

    2. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 13, Nxb CTQG ST, Hà Nội, 2011, tr. 258.

    3. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập 1, Nxb CTQG ST, Hà Nội, 2021, tr.125.

    4. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập 1, Nxb CTQG ST, Hà Nội, 2021, tr.278.

 

Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục gửi về banbientapcsb@gmail.com

Các tin liên quan